vanban.org

Bản án 160/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành S, Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thành S 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023. Xử phạt: Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành S, Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2023/HSST
Ngày: 06/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan

- Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Khanh

2. Ông Chu Bá Hữu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tú - Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long biên, thành phố Hà Nội. Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 157/2023/HSST ngày 08/6/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162 ngày 28/6/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: NGUYỄN THÀNH S, sinh năm 1990; HKTT và chỗ ở: Số 7 ngõ 61/88, tổ 12, phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn V và bà: Lương Thị Y ; vợ là Nguyễn Thị H có 2 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 342 ngày 28/4/2023 do Công an quận Long Biên lập và chính quyền địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự trong thời hiệu. Nhân thân: có 02 tiền án: Bản án số 56/2018/HSST ngày 19/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 01/2/2019. Bản án số 12/2020/HSST ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 18/1/2021. Bị bắt ngày 19/4/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

2. Họ và tên: TRẦN VĂN T, sinh năm 1981; HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố N, thị trấn Cao T, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Trần Văn L và bà: Hà Thị S, vợ là Phùng Thị L (Đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 341 ngày 28/4/2023 do Công an quận Long Biên lập và chính quyền địa phương cung cấp thì bị cáo có 02 tiền án: Bản án số 226/2015/HSST ngày 27/10/2015 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội xử phạt 7 năm 3 tháng tù về tội Cướp tài sản. Bản án số 204/2021/HSST ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Nhân thân: có 03 tiền án, 03 tiền sự: Năm 1996, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc buộc đi cơ sở giáo dục thời hạn 12 tháng. Năm 1999, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc buộc đi cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Năm 2010, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội buộc đi cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Tại trích lục án hình sự số 84 ngày 11/5/1998 thể hiện tại Bản án số 74/1998/HS-ST ngày 13/6/1998, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang) xử phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 24/6/1998. Bản án số 72/2006/HSST ngày 17/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 8 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 08/4/2007. Bản án số 42/2007/HSST ngày 28/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, Bắc Giang xử phạt 22 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 14/7/2009. Bắt ngày 19/4/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

Bị hại:

Anh Bùi Văn H, sinh năm 1991

Cư trú: 3/92 phố Nguyễn S, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, TP Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h00’ ngày 15/4/2023, S và T đi bộ lang thang trên địa bàn quận Long Biên tìm nhà dân có tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đến khoảng 02h ngày 16/4/2023, khi đi đến khu vực tập thể 918 thuộc phường Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội, S và T phát hiện tại trước cửa nhà số 217C12 khu tập thể 918, thuộc Tổ 6 phường Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội có để 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, BKS: 35K1-121.95. Quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi xe nên S và T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy này. S đi ra đầu ngõ đứng cảnh giới, T đi bộ vào kiểm tra thấy xe máy không khóa cổ, không khóa càng nên T đã dắt chiếc xe máy ra ngoài. S thấy T dắt xe ra thì đi cùng đến đường Nguyễn Văn L gặp 01 nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ điều khiển xe máy đi qua. Thấy vậy, S và T nói xe đang bị hỏng và nhờ nam thanh niên này đẩy hộ xe. Sau đó, S ngồi lên xe máy vừa trộm cắp, T ngồi lên xe nam thanh niên đẩy xe máy trộm cắp đi xe về dựng tại ngõ 62 Gia Quất, Thượng Thanh cất giấu. Hồi 15h00’ ngày 18/04/2023 anh Bùi Văn H đã trình báo đến cơ quan Công an phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. Đến 15h 45’ ngày 19/04/2023, tổ công tác của đội CSHS Công an quận Long Biên tuần tra kiểm soát tại ngõ 62 Gia Q, Thượng Thanh, Long Biên phát hiện Nguyễn Thành S và Trần Văn T đang dắt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu Xanh Trắng, Biển số: 35K1-121.95 trùng đặc điểm với tang vật vụ trộm nêu trên. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, kết quả Nguyễn Thành S và Trần Văn T khai nhận chiếc xe trên do S và T trộm cắp được ngày 15/04/2023 tại Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội. Tiến hành kiểm tra xe máy, xác định xe có số khung: 486261, số máy: 1486072 trùng với thông tin số khung, số máy xe của anh Huy bị mất nêu trên. Tổ công tác tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, đưa đối tượng cùng tang vật về trụ sở làm rõ. Tang vật thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, BKS: 35K1-121.95, 01 điện thoại Nokia 1280 màu hồng. Tại cơ quan điều tra, bị cáo Sơn, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 77 ngày 19/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, BKS: 35K1-121.95 đã qua sử dụng trị giá 11.748.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thành S và Trần Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung kbanr cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và khẳng định không bị oan

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa đưa ra các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 đối với bị cáo Sơn; điểm g khoản 2 Điều 173 đối với bị cáo T ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành S mức án từ 15-18 tháng tù. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 28-32 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng là hình phạt tiền vì các bị cáo không có thu nhập ổn định. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về tang vật: Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu hồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Nói lời sau cùng: các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối hận về việc làm của mình và xin được giảm nhẹ về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/4/2023, tại khu tập thể 918, thuộc Tổ 6 phường Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội Nguyễn Thành S và Trần Văn T có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, BKS: 35K1-121.95 trị giá 11.748.000 đồng (mười một triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng) của anh Bùi Văn H. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành S đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Trần Văn T đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ.

. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người khởi xướng, người thực hành tích cực, trực tiếp vào lấy tài sản. Bị cáo S đồng phạm với vai trò giúp sức.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Thành S có 02 tiền án: Bản án số 56/2018/HSST ngày 19/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 01/2/2019. Bản án số 12/2020/HSST ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 18/1/2021. Quá trình điều tra thể hiện bị cáo đã chấp hành xong các quyết định bản án nên đã được xóa án tích, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng HĐXX cũng đánh giá về nhân thân đối với bị cáo. Xét nhân thân bị cáo Trần Văn T có 5 tiền án, 03 tiền sự trong đó có 3 tiền án đã được xóa án tích 03 tiền sự đã hết thời hiệu. Đối với 02 tiền án: Ngày 27/10/2015, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 7 năm 3 tháng tù về tội Cướp tài sản, ra trại ngày 30/8/2020 và Bản án số 204/2021/HSST ngày 22/9/2021, Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản phạm, ra trại ngày 05/4/2022 đều chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, HĐXX cũng xem xét giảm nhẹ một phần đối với các bị cáo vì bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nhận định ở trên. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên về nhân thân của các bị cáo, về việc áp dụng hình phạt tù, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của HĐXX.

.Về hình phạt bổ sung: do các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, BKS: 35K1-121.95, qua xác minh thể hiện đăng ký xe mang tên Bùi Văn H. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 89 ngày 25/5/2023 trao trả chiếc xe máy trên cho anh Huy là chủ sở hữu hợp pháp. Anh Huy đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự, anh Huy đề nghị xử lý các bị can theo quy định của pháp luật.

. Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu hồng là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo nhưng cho tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Đối với nam thanh niên đã đẩy xe máy trộm cắp cho S và T tại đường Nguyễn Văn Linh, S và T gặp nam thanh niên này trên đường, không biết nhân thân lại lịch. S và T không nói cho nam thanh niên biết chiếc xe máy là do S và T trộm cắp. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên không có cơ sở để làm rõ.

.Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành S, Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Nguyễn Thành S 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023.

3. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023.

4. Biện pháp tư pháp:

Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại Nokia 1280 màu hồng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023 nhưng cho tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

5. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ