- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Đức Đ (Trộm cắp tài sản) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Đức Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2023/HS-PT Ngày: 25-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Thẩm phán:
Ông Trần Khắc Hoàng
Bà Trương Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Khánh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 128/2023/HSPT ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Hồ Đức Đ, do có kháng cáo của bị cáo Hồ Đức Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo kháng cáo: Hồ Đức Đ; tên gọi khác: không; sinh ngày 15 tháng 3 năm 1997; Quê quán: phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tố dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông Hồ Đức M, sinh năm 1956 và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955; Anh, chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 01-12-2022 cho đến nay. Có mặt
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo: ông Hồ Đức M, sinh năm 1956, nghề nghiệp: Làm ruộng; Tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Cha đẻ của bị cáo). Có mặt
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại và người có quyền L nghĩa vụ liên quan, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:
Trong hai ngày 21/9/2022 và ngày 22/9/2022, trong lúc làm thợ sửa chữa nhà C và D khu ký túc xá Công ty gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (gọi tắt là Công ty Formosa Hà Tĩnh), ở phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, Hồ Đức Đ đã đột nhập vào phòng D406, D404 và D402 nhà D, Ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể N sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 21/9/2022, trong lúc làm việc, Hồ Đức Đ đi qua phòng D406, Nhà D, ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh, ở phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì thấy cửa phòng không khóa. Sau khi quan sát qua cửa thấy không có người bên trong nên Hồ Đức Đ đầy cửa đi vào trong phòng. Khi vào phòng thấy cửa tủ quần áo không khóa, nên Hồ Đức Đ mở cửa tủ thì thấy một chiếc túi màu đen, bên trong có một phong bì thư màu trắng có nhiều tiền mặt nên Hồ Đức Đ đã lấy một phần tiền trong phong bì và để lại phong bì ở vị trí cũ. Hồ Đức Đ tiếp tục đi đến chiếc bàn để giữa phòng thì thấy có một chiếc hộp hình vuông, Đ mở chiếc hộp thì thấy bên trong có một chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng và một chiếc huy hiệu bằng kim loại màu vàng có khắc chữ FHS, Hồ Đức Đ lấy chiếc nhẫn và chiếc huy hiệu cất bằng kim loại màu vàng bỏ vào túi quần của mình rồi đi ra khỏi phòng để tiếp tục làm việc. Đến 15 giờ 45 phút, cùng ngày, Hồ Đức Đ đi về nhà mình ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K, khi về đến nhà, Hồ Đức Đ đếm số tiền vừa lấy trộm được là 20.580.000 đồng. Một chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng; một chiếc huy hiệu bằng kim loại màu vàng và 20.580.000đ tiền mặt mà Hồ Đức Đ trộm cắp tại phòng D406, Nhà D, ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh là của chị Nguyễn Thị Thúy Nga, sinh năm 1991, ở thị trấn Đồng Lê, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, là công nhân Công ty Formosa Hà Tĩnh. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã K thì 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng và 01 chiếc huy hiệu bằng kim loại màu vàng, đều là vàng 24K, trong đó: khối lượng chiếc nhẫn vàng là 0,5 chỉ, trị giá 2.500.000đ và chiếc huy hiệu bằng vàng có khối lượng 1,19 chỉ, trị giá 5.950.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Hồ Đức Đ chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thúy Nga là 29.030.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 22/9/2022, Hồ Đức Đ tiếp tục đến Công ty Formosa Hà Tĩnh để làm việc. Sau khi quan sát thấy khu nhà D, ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh vắng người nên Hồ Đức Đ nây sinh ý định trộm cắp tài sản. Hồ Đức Đ đi qua phòng D404, nhà D thấy cửa phòng không khóa nên đây cửa đi vào. Khi vào phòng thấy chiếc tủ trong phòng không khóa, Hồ Đức Đ mở tủ ra thì thấy một con lợn đất (dụng cụ bỏ tiền tiết kiệm) và chiếc ví da màu nâu, Hồ Đức Đ mở ví lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 Tân Đài Tệ (tiền Đài Loạn) và lấy con lợn đất, rồi khép cửa tủ lại và đi ra ngoài. Khi ra đến cầu thang thì Hồ Đức Đ đập vỡ con lợn đất lấy toàn bộ số tiền trong con lợn đất bỏ vào túi quần; còn con lợn đất đã đập vỡ, Hồ Đức Đ vứt vào thùng rác. Hồ Đức Đ tiếp tục đi đến phòng D402 thì thấy cửa phòng không khóa nên đẩy cửa đi vào. Khi vào phòng thấy một con lợn đất (dụng cụ bỏ tiền tiết kiệm) ở trên bàn, Hồ Đức Đ lấy con dao ở trong phòng đập vỡ một lỗ ở trên đầu con lợn và lấy toàn bộ số tiền trong con lợn đất bỏ vào túi áo, còn con lợn Hồ Đức Đ bỏ trên nóc tủ ở trong phòng, rồi đi về. Khi về nhà Hồ Đức Đ lấy số tiền trộm cắp được ra đếm được tổng cộng 6.350.000đồng và 1.000 Tân Đài tệ, trong đó số tiền trộm cắp ở phòng D404 là 1.000 Tân Đài tệ và 5.010.000đ ở trong con lợn đất; số tiền trong con lợn đất lấy trộm ở phòng D402 là 1.340.000 đồng. Tài sản mà Hồ Đức Đ lấy trộm trong phòng D404 ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh bao gồm: 1.000 Tân Đài Tệ và 5.010.000đ là của chị Nguyễn Thị Hoài N; sinh năm 1991, ở xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, là công nhân Công ty Formosa Hà Tĩnh. Theo tỷ giá Tân Đài Tệ tại thời điểm trộm cắp xác định 1.000 Tân Đài Tệ tương đương với 681.600VNĐ. Tổng cộng số tài sản mà Hồ Đức Đ đã lấy trộm của chị Nguyễn Thị Hoài N là 5.691.600 đồng. Tài sản là số tiền 1.340.000đồng mà Hồ Đức Đ lấy trộm trong phòng D402, ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh là của chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1995, ở thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, là công nhân Công ty Formosa Hà Tĩnh. Sau khi chiếm đoạt được các tài sản trên, đến ngày 23/9/2022 Hồ Đức Đ đã mua 02 con lợn đất đưa đến bỏ vào phòng D404 của chị Nguyễn Thị Hoài N và phòng D406 của chị Nguyễn Thị P nhằm che dấu hành vi phạm tội của mình. Số tài sản trộm cắp được Hồ Đức Đ đã bán chiếc nhẫn kim loại màu vàng cho bà Nguyễn Thị L, chủ cửa hàng vàng bạc Trung H ở phường H, Thị xã K được 2.500.000 đồng; bán chiếc huy hiệu bằng kim loại màu vàng cho bà Đặng Thị Thu H, chủ cửa hàng vàng bạc Phú Nhân Nghĩa, ở tổ dân phố L, phường K, thị xã K được 5.960.000 đồng; bán tờ tiền 1.000 Tân Đài Tệ cho anh Nguyễn Hữu B, chủ cửa hàng vàng bạc H, ở phường H, Thị xã K được 760.000đồng. Khi bán chiếc nhẫn kim loại màu vàng; chiếc huy hiệu bằng kim loại màu vàng và tờ tiền Tân Đài tệ, Hồ Đức Đ nói dối là của mình nên bà Nguyễn Thị L và bà Đặng Thị Thu H và anh Nguyễn Hữu B không biết tài sản do trộm cắp mà có. Số tiền bán chiếc nhẫn và chiếc huy hiệu bằng kim loại màu vàng, cùng với số tiền trộm cắp được, Hồ Đức Đ sử dụng để trả nợ hết 18.900.000 đồng; mua 01 nhẫn vàng 18K hết 1.100.000đồng; mua 02 chiếc nhẫn bạc hết 640.000 đồng; mua 01 chiếc lắc tay bằng bạc hết 585.000 đồng; mua 01 dây chuyền bạc 910.000 đồng; mua 01 mặt dây chuyển bạc hết 281.000 đồng; sử dụng chi tiêu hết 11.234.000 đồng, còn lại 2.500.000đồng Hồ Đức Đ giao nộp cho Cơ quan Đ tra Công an thị xã K.
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKSTXKA ngày 31-5-2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã K đã truy tố Hồ Đức Đ về tội "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 Đ 173 Bộ luật hình sự.
Với hành vi phạm tội trên, tại bản án số 47/2023/HS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đã Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Đ 173; Điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Đ 51; điểm g, Khoản 1 Đ 52, Đ 38 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điểm b Khoản 1 Đ 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Đ 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Khoản 2 Đ 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Đ 3; Khoản 1 Đ 21; Điểm a khoản 1 Đ 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị Quyết Sô 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội. Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Đức Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Đức Đ 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Án sơ thẩm còn tuyên về xứ lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền L và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/7/2023 bị cáo Hồ Đức Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hồ Đức Đ vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Đ 355, Đ 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Hồ Đức Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định N sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Đức Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản án sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Trong hai ngày 21/9/2022 và 22/9/2022, trong lúc làm thợ sửa chữa nhà ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh, L dụng các cửa phòng không khóa, Hồ Đức Đ đã đột nhập vào các phòng D406, D404 và D402, nhà D, Ký túc Công ty Formosa Hà Tĩnh, ở phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh chiếm đoạt tiền, vàng của công nhân ở nội trú trong phòng ký túc xá Công ty Formosa Hà Tĩnh, với tổng trị giá 36.061.600 đồng, trong đó: Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 21/9/2022 vào phòng D406 chiêm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy Nga với tổng giá trị tài sản là 29.030.000 đồng bao gồm: 20.580.000 đồng tiền mặt, 01 chiếc nhẫn vàng 0,5 chỉ, trị giá 2.500.000đ, 01 chiếc huy hiệu bằng vàng 1,19 chỉ, trị giá 5.950.000đ; Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ, ngày 22/9/2022 vào phòng D404 chiếm đoạt của chị Nguyễn Hoài N, tổng trị giá tài sản là 5.691.600đ, trong đó 5.010.000 đồng và 1.000 Tân Đài Tệ, tương đương 681.600đ, rồi tiếp tục vào phòng D402 chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị P 1.340.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt là 36.061.600 đồng. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Đ 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hồ Đức Đ, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Hồ Đức Đ phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Nng bị cáo phạm tội nhiều lần, sau khi phạm tội đã thực hiện các thủ đoạn nhằm che dấu hành vi phạm tội của mình. Quá trình xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng Đ khiến hành vi của mình; người phạm tội đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại Điểm b, q, s, Khoản 1 và Khoản 2, Đ 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, mức hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Đức Đ.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là đã xem xét toàn diện tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Đ 355; Đ 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Đức Đ. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.
Áp dụng khoản 1 Đ 173; Điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Đ 51; điểm g, Khoản 1 Đ 52, Đ 38 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điểm b Khoản 1 Đ 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Đ 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Khoản 2 Đ 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Đ 3; Khoản 1 Đ 21; Điểm a khoản 1 Đ 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị Quyết Sô 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Đức Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Đức Đ 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Đ 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm b khoản 2 Đ 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Hồ Đức Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; - CA; VKS; TA; THA huyện Can Lộc; - Bị cáo; - PV06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |