vanban.org

Bản án 160/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H.

Về nuôi con chung: Có một con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009. 1.Giao con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009 cho bà Lê Thị Ngọc N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:160/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2023
V/v tranh chấp ly hôn
giữa bà N và ông H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Mai Minh Chánh

2.Ông Nguyễn Văn Giữ

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 177/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 142/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1970.

Địa chỉ: ấp LC, xã TMT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: ấp BD, xã TMT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc N trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H do tự tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới, nhưng do lo việc làm ăn nên đến nay vẫn chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định. Sau thời gian chung sống hạnh phúc với nhau, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Qua thời gian sống ly thân, bà Lê Thị Ngọc N cảm thấy không còn tình cảm với ông Phạm Văn H nên bà Lê Thị Ngọc N yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Có một con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009. Hiện cháu B đang sống với bà Lê Thị Ngọc N và ý kiến của cháu B có nguyện vọng sống chung với với bà Lê Thị Ngọc N. Khi ly hôn, bà Lê Thị Ngọc N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009 và không yêu cầu ông Phạm Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Ngọc N yêu cầu được xét xử vắng mặt trong vụ án này.

*.Bị đơn ông Phạm Văn H trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Ông Phạm Văn H thống nhất như lời trình bày của bà Lê Thị Ngọc N là giữa ông Phạm Văn H và bà Lê Thị Ngọc N do tự tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới, nhưng do lo việc làm ăn nên đến nay vẫn chưa thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định. Sau thời gian chung sống hạnh phúc với nhau, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Qua thời gian sống ly thân, bà Lê Thị Ngọc N cảm thấy không còn tình cảm với ông Phạm Văn H nên bà Lê Thị Ngọc N yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Có một con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009. Hiện cháu B đang sống với bà Lê Thị Ngọc N và ý kiến của cháu B có nguyện vọng sống chung với với bà Lê Thị Ngọc N. Khi ly hôn bà Lê Thị Ngọc N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và ông Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn H đồng ý cho bà Lê Thị Ngọc N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009. Ông Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên ông Phạm Văn H và bà Lê Thị Ngọc N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Phạm Văn H đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc N về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

Về tố tụng: Mặc dù phiên tòa được mở lần thứ nhất nhưng nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc N và bị đơn ông Phạm Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 24/03/2023, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Lê Thị Ngọc Nhân và ông Phạm Văn H nên Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H.

Về hôn nhân: Giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay, có tổ chức lễ cưới, nhưng ông bà vẫn không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, hôn nhân giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H đã vi phạm điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về đăng ký kết hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đến mâu thuẫn trong hôn nhân, mà áp dụng Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H.

Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Lê Thị An B, lời trình bày của bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H thì bà và ông H có con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009, do bà Lê Thị Ngọc N đang nuôi dưỡng, chăm sóc.

Xét thấy, con chung được bà Lê Thị Ngọc N giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập và ý kiến của cháu Bình có nguyện vọng được sống chung với bà Lê Thị Ngọc N. Ông Phạm Văn H cũng đồng ý cho bà Lê Thị Ngọc N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009 nên Hội đồng xét xử chấp nhận bà Lê Thị Ngọc N được nuôi con là có cơ sở. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009 cho bà Lê Thị Ngọc N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Phạm Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Lê Thị Ngọc N và các thành viên trong gia đình của bà Lê Thị Ngọc N không được cản trở ông Phạm Văn H thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Bà Lê Thị Ngọc N không có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo trình bày của bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H về tài sản chung và nợ chung là không có nên bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc N là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H.

2.Về nuôi con chung: Có một con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009.

2.1.Giao con chung chưa thành niên tên Lê Thị An B, sinh ngày 15/5/2009 cho bà Lê Thị Ngọc N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Ông Phạm Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Lê Thị Ngọc N và các thành viên trong gia đình của bà Lê Thị Ngọc Nhân không được cản trở ông Phạm Văn H thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2.2. Bà Lê Thị Ngọc N không có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

4.Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005403 ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Lê Thị Ngọc N đã nộp đủ.

5.Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Ngọc N và ông Phạm Văn H vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ