vanban.org

Bản án 160/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đối với chị Lê Thị Hồng H về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”.

Buộc chị Lê Thị Hồng H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền 45.144.099 (bốn mươi lăm triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn không trăm chín mươi chín) đồng, trong đó, nợ gốc là 33.973.163 (ba mươi ba triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn một trăm sáu mươi ba) đồng, nợ lãi quá hạn là 8.0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng P - H - Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đối với chị Lê Thị Hồng H về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2023/DS-ST
Ngày: 30-9-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng thẻ
tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Lài.

2. Ông Hoàng Đình Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138A/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P; Địa chỉ: Số 25 Bis, N, Phường B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Trường A - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần P - chi nhánh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền số 1489/2023/QĐ-TGĐ ngày 23-5-2023).

Người được ủy quyền lại: Ông Lê Quốc H, sinh năm: 1984; Địa chỉ: 440 Đường Y, Khu phố K, Phường M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền số 41/2023/UQ-HDB ngày 25-5-2023). “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Hồng H, sinh năm: 1982; Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 5 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - Ngân hàng thương mại cổ phần P - trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cấp tín dụng cho bà Lê Thị Hồng H theo Giấy đề nghị cấp thẻ ký ngày 17-8-2022 (Số thẻ tín dụng 416259xxxxxx4111), hạn mức vay là 40.000.000 đồng, loại thẻ tín dụng Visa Credit Vietjet Platinum RFM Main Card, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn được áp dụng theo Biểu lãi suất Thẻ tín dụng do Ngân hàng quy định tùy từng thời điểm (tại thời điểm cấp thẻ tín dụng cho bà H là 29%/năm), lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc (theo Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngày 09-02-2023, bà H không thanh toán đúng hạn, Ngân hàng đã gửi các Thông báo nợ đến hạn cho bà H nhưng bà H vẫn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển khoản vay của bà H sang nợ quá hạn số tiền là 36.316.719 đồng.

Tại Bản tự khai ngày 30-9-2023, Ngân hàng yêu cầu bà H thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 30-9-2023 là 45.144.099 đồng, trong đó, dư nợ gốc là 33.973.163 đồng, lãi quá hạn là 8.014.944 đồng, phí là 3.155.992 đồng. Chị H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán khoản lãi và phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất, phí quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn - chị Lê Thị Hồng H - đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện lời trình bày và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ theo đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị H phải trả số tiền gốc và lãi, phí đến ngày xét xử là 45.144.099 đồng, trong đó, nợ gốc là 33.973.163 đồng, nợ lãi quá hạn là 8.014.944 đồng, phí là 3.155.992 đồng, tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Các đương sự chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn - chị H - đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Nguyên đơn - Ngân hàng - vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.

Về nội dung vụ án:

Ngân hàng cung cấp hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng gồm Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm, dịch vụ ngày 17-8-2022, Tờ trình cấp thẻ tín dụng, các Thông báo nợ quá hạn... thể hiện: Chị Lê Thị Hồng H được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức 40.000.000 đồng, loại thẻ tín dụng Visa Credit Vietjet Platinum RFM Main Card, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn được áp dụng theo Biểu lãi suất Thẻ tín dụng do Ngân hàng quy định tùy từng thời điểm (tại thời điểm cấp thẻ tín dụng cho chị H là 29%/năm), lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc, các bên tuân thủ theo Quyết định về việc ban hành Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng HDBank.

Ngày 09-02-2023, chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chốt dư nợ gốc lãi tổng cộng là 36.316.719 đồng và chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn là phù hợp quy định tại Điều 15 Phụ lục 1 Quyết định về việc ban hành Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng HDBank.

Chị H vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không thể hiện lời trình bày và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ, tài liệu do Ngân hàng cung cấp, có cơ sở xác định chị H còn phải thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc là 33.973.163 đồng.

Chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng có quyền áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng thời gian chậm trả, đồng thời, Ngân hàng áp dụng mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và thu phí dịch vụ là phù hợp Điều 01, Điều 04 Phụ lục 1 Quyết định về việc ban hành Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng HDBank, Quyết định về việc ban hành biểu phí dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân, Quyết định về việc ban hành lãi suất thẻ tín dụng HDBank, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng buộc chị H có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi quá hạn từ ngày 13-02-2023 đến ngày xét xử 30-9-2023 là 8.014.944 đồng, phí là 3.155.992 đồng và tiếp tục thanh toán lãi quá hạn, phí cho đến khi tất nợ là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5% trên số tiền phải trả theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;

- Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng;

- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đối với chị Lê Thị Hồng H về việc “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”.

Buộc chị Lê Thị Hồng H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền 45.144.099 (bốn mươi lăm triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn không trăm chín mươi chín) đồng, trong đó, nợ gốc là 33.973.163 (ba mươi ba triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn một trăm sáu mươi ba) đồng, nợ lãi quá hạn là 8.014.944 (tám triệu không trăm mười bốn nghìn chín trăm bốn mươi bốn) đồng, phí là 3.155.992 (ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn chín trăm chín mươi hai) đồng.

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán , phí theo mức lãi suất, mức phí do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ, mức phí thì lãi suất, phí tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần P theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất, phí của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Lê Thị Hồng H phải chịu 2.257.000 (hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P tiền tạm ứng án phí đã nộp là 977.000 (chín trăm bảy mươi bảy nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0018617 ngày 01-6-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ