- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Xuân Thắng - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tống Xuân Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2022/HS-ST Ngày: 17-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Bà Trần Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Xuân Th; sinh năm 1977 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số 50/16 đường Tr1, phường Tr, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tống Xuân Th và bà: Phạm Thị L; tiền án: ngày 26-9-2012 Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 31-7-2014 Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình xử phạt 2 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 13-12-2016 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 26-10-2020 Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 760.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03-8-2021); tiền sự: không; nhân thân: ngày 22-01-1997 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 07-01-1999 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 05-3-2003 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 30 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, ngày 16-02-2006 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, ngày 16-02-2009 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 30-4-2022, chuyển tạm giam ngày 09-5-2022; có mặt.
- Bị hại: Chị Đinh Thị Hồng Nh, sinh năm 2003, nơi cư trú: số 59 đường Tr, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28-4-2022, Tống Xuân Th điều khiển xe máy Wave màu xanh đen biển kiểm soát 18F1-8115 đi từ chỗ làm ở xã Mỹ Phúc huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định về nhà. Khi đi đến trước cửa tiệm Spa Phương Anh ở địa chỉ 59 đường đường Tr, phường L thành phố N. Th dừng xe dưới lòng đường thấy cửa kính phòng khách của tiệm mở bên trong có nhiều tài sản có giá trị, quan sát không có ai trông coi nên Th nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Th vào nhà lén lút lấy trộm một chiếc điện thoại Iphone X màu trắng, 01 chiếc máy soi da nhãn hiệu MEIBOYI (là tài sản của chị Đinh Thị Hồng Nh) rồi nhanh chóng ra xe tẩu thoát. Lúc này chị Nhung ở gian nhà trong phát hiện Th trộm cắp tài sản nên đã tri hô đuổi theo nhưng không kịp sau khi trộm cắp được tài sản Th mang đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại của anh Lã Văn Hiếu địa chỉ 257 Tr phường V thành phố N để mở khóa màn hình, hẹn vài ngày sẽ quay lại lấy và gửi lại chiếc máy soi da ở cửa hàng của anh H (Th nói với H là chiếc điện thoại Th nhặt được và không nói gì về nguồn gốc chiếc máy soi da) rồi Th đi về nhà.
Sau khi bị mất trộm tài sản, ngày 29-4-2022 chị Đinh Thị Hồng Nh đến công an phường Lộc Hòa để trình báo sự việc.
Cơ quan điều tra đã thu giữ đoạn Video trích xuất từ hình ảnh camera an ninh tại trước cửa tiêm Spa Phương Anh số 59 đường Tr, phường L thành phố N ghi lại hình ảnh có 01 người đàn ông đã vào trong tiệm Spa lấy đi một chiếc điện thoại Iphone X màu trắng, 01 chiếc máy soi da nhãn hiệu MEIBOYI rồi bỏ chạy.
Ngày 30-4-2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã triệu tập Tống Xuân Th lên làm việc tại đây Th đã viết đơn xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã triệu tập anh Lã Văn H để làm việc, cho anh Hiếu nhận dạng người qua bản ảnh. Anh H nhận ra và khẳng định chính Th là người đã mang 01 một chiếc điện thoại Iphone X màu trắng, 01 chiếc máy soi da nhãn hiệu MEIBOYI đến cửa hàng của anh vào ngày 28-4-2022 và tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N.
Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 24/KL-HĐĐGTS ngày 05-5-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone X màu trắng đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng; 01 chiếc máy soi da nhãn hiệu MEIBOYI trị giá 2.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại số tài sản trên cho chị Đinh Thị Hồng Nh; chị Nhung đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác.
Bản Cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Tống Xuân Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Tống Xuân Th khai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28-4-2022, bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone X màu trắng và 01 chiếc máy soi da nhãn hiệu Meiboyi như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tống Xuân Th theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tống Xuân Th và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Tống Xuân Th, lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28-4-2022, tại tiệm Spa Phương Anh số 59 đường đường Tr, phường L thành phố N, Tống Xuân Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Đinh Thị Hồng Nh 01 chiếc điện thoại Iphone X màu trắng đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng; 01 chiếc máy soi da nhãn hiệu MEIBOYI trị giá 2.000.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.000.000 đồng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, đã được xóa án tích. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án tại bản án số 315/2020/HS-ST ngày 26-10-2020 về tội “Trộm cắp tài sản” (đối với hành vi trộm cắp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng và có 03 tiền án là tình tiết định tội), chưa được xóa án tích; do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội, sau khi phạm tội đã đầu thú; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vấn đề dân sự: Bị hại là chị Đinh Thị Hồng Nh đã nhận lại tài sản và không đề nghị giải quyết vấn đề bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen biển kiểm soát 18F1-8115 tạm giữ của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Doãn Quang là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Tống Xuân Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Tống Xuân Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Tống Xuân Th 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30-4-2022.
2. Án phí: Bị cáo Tống Xuân Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Tống Xuân Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Đinh Thị Hồng Nhung được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - VKSND tp. Nam Định (02 bản); - TAND tỉnh Nam Định; - Công an tp. Nam Định; - Chi cục THADS tp. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |