vanban.org

Bản án 160/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự

Buộc b cáo Bùi Trung K bồi thường cho bà Nguyễn Th Kh số tiền 562.000.000 (năm trăm sáu mư i hai triệu) đồng. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, b h i có đ n yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng b cáo còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trung K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chứ…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2022/HS-ST
Ngày 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Thẩm phán: Bà B i Th Thu H ng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ph m M nh H ng

Bà Cao Th H

Bà Nguyễn Th Hồng Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Th Tư i - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 162/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với b cáo:

Bùi Trung K, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1984 t i Hải Phòng; N i cư trú: Số 85 An Ch, An L 1, phường Sở D, quận Hồng B, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông B i Văn V và bà Dư ng Th M; có v Hoàng Th Ph, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; B cáo b bắt t m giữ ngày 23/01/2022, chuyển t m giam từ ngày 26/01/2022; có mặt.

Ng i bào ch a cho b cáo: Ông Nguyễn Văn Ch - Luật sư Văn phòng luật sư Lam S n thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt;

B hại: Bà Nguyễn Th Kh, sinh năm 1972, n i cư trú: Thôn Hoàng L, xã Hồng Pho, huyện An D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

Ng i làm chứng: Bà Dư ng Th M và ông Đỗ M nh H, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 3/2021, do cần tiền để trả n và tiêu xài cá nhân, Bùi Trung K nảy sinh ý đ nh làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để mang cầm cố, vay tiền nh m chiếm đo t tài sản. K truy cập vào m ng xã hội Facebook thấy có quảng cáo việc làm giả giấy tờ nên nhắn tin trao đổi thì đư c nhắn số điện tho i 0914870904 để trao đổi qua m ng xã hội Zalo. K truy cập số điện tho i 0914870904 thì thấy tài khoản Zalo có tên “Tuệ Như” nên cung cấp thông tin của mình và thỏa thuận đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t i thửa đất số 138, tờ bản đồ số 22, đ a chỉ: thôn Tỉnh Thủy 2, An Hòa, An Dư ng, Hải Phòng, diện tích 140m2 (giấy 1), mang tên K với giá 5.000.000 đồng, đặt cọc trước 1.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, có nhân viên chuyển phát nhanh gọi điện cho K để nhận bưu phẩm, K kiểm tra đúng là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đặt làm giả và thanh toán cho nhân viên chuyển phát số tiền 4.000.000 đồng còn l i. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả K đến gặp anh Đỗ M nh H, sinh năm 1978, n i cư trú: Do Nha, Tân Tiến, An Dư ng, Hải Phòng để thỏa thuận vay số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất 1000 đồng/1 triệu/1 ngày và thống nhất đến văn phòng công chứng lập h p đồng công chứng chuyển như ng đất giữa K và anh H. Do việc lập h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất phải có chữ ký của v K là ch Hoàng Th Phư ng hoặc phải ghi rõ là tài sản riêng của K nên không lập đư c h p đồng chuyển như ng và không vay đư c tiền của anh H.

Sau khi không vay đư c tiền của anh H, K tiếp tục liên l c với tài khoản Zalo “Tuệ Như” để đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác (giấy 2) c ng ở đ a chỉ trên nhưng có thêm xác nhận K đư c quyền sở hữu riêng với giá 5.000.000 đồng, đặc cọc trước 3.000.000 đồng.

Ngày 30/4/2021, K và bà Dư ng Th M (mẹ đẻ K), sinh năm 1962, n i cư trú: Tỉnh Thủy 2, An Hòa, An Dư ng, Hải Phòng mang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả (giấy 1) c ng đến gặp bà Nguyễn Th Kh, sinh năm 1972, trú t i: thôn Tỉnh Thủy 1, xã An Hòa, An Dư ng, Hải Phòng cầm cố để vay số tiền 600.000.000 đồng với lãi suất 4%/ tháng. Bà Kh đồng ý. K là người viết giấy biên nhận vay tiền của bà Kh, nhận số tiền 600.000.000 đồng từ bà Kh sử dụng để trả n và chi tiêu cá nhân. Khoảng 10 ngày sau khi vay tiền của bà Kh thì K nói cho bà M biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cầm cố để vay tiền là giả.

Ngày 07/5/2021, nhân viên chuyển phát nhanh gọi điện cho K để nhận bưu phẩm. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả (giấy 2), K thanh toán cho nhân viên chuyển phát nhanh số tiền 2.000.000 đồng còn l i, sau đó K và anh Đỗ M nh H đến Văn phòng công chứng Tăng Th Xuân ở đ a chỉ thôn Vĩnh Khê, An Đồng, An Dư ng, Hải Phòng làm h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất nh m mục đích vay số tiền 600.000.000 đồng. Quá trình làm h p đồng công chứng Văn phòng công chứng phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của K có dấu hiệu làm giả nên trình báo công an huyện An Dư ng.

Sau khi phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do K cầm cố là giả, Bà Nguyễn Th Kh giao nộp cho C quan điều tra c ng giấy biên nhận vay tiền và Bùi Trung K tự nguyện giao nộp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang cầm cố cho anh H lần thứ hai c ng 02 điện di động đã qua sử dụng. C quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám đ nh đối với các tài liệu, dồ vật thu giữ đư c, kết quả:

- T i Kết luận giám đ nh số 62/KL-KTHS (TL) ngày 14/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Bùi Trung K trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A trừ mục “Người làm chứng”, “người giao tiền” so với chữ ký, chữ viết mang tên Bùi Trung K trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 do c ng một người ký, viết ra.

- T i Kết luận giám đ nh số 197/KLGĐ ngày 25/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận:

+ Trong mẫu giám đ nh ký hiệu A1:

Tìm thấy: 200 cuộc gọi lưu trong máy. Nội dung các cuộc gọi đư c thể hiện chi tiết t i thư mục có tên “A1” đư c lưu trong đĩa CD kèm theo.

Tìm thấy: 187 số điện tho i lưu trong danh b , 35 tin nhắn đư c lưu trong SIM. Nội dung các số điện tho i, tin nhắn đư c thể hiện chi tiết t i thư mục có tên “A1” đư c lưu trữ trong đĩa CD kèm theo.

+ Trong mẫu giám đ nh ký hiệu A2:

Tìm thấy: 3134 số điện tho i trong danh b , 259 cuộc gọi, 23 tin nhắn tức thì, 82 cuộc hội tho i b ng ứng dụng Messenger, 19 cuộc hội tho i Native Messager, 16 tin nhắn Recents, 67 cuộc hội tho i b ng ứng dụng Zalo đư c lưu trong máy. Nội dung các số điện tho i, cuộc gọi, tin nhắn đư c thể hiện chi tiết t i thư mục có tên “A2” đư c lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy cuộc hội tho i b ng ứng dụng Zalo giữa tài khoản tên “K” với tài khoản “Tuệ Như”.

Tìm thấy: 01 số điện tho i trong danh b , 04 tin nhắn đư c lưu trong SIM. Nội dung các số điện tho i, tin nhắn đư c thể hiện chi tiết t i thư mục có tên “A2” đư c lưu trong đĩa CD kèm theo.

+ 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Bùi Trung K; Sinh năm 1984, Số CCCD 031084010186; Đ a chỉ thường trú: số 85 An Chân, An L c 1, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng: Số CQ 333791; Số vào sổ cấp GCN: CS08679 ghi ngày 20/9/2019 (đóng dấu tài liệu cần giám đ nh số: 197/2021 của PC09 - TP. Hải Phòng ký hiệu A3) là giả, đư c làm giả b ng phư ng pháp in phun màu.

+ Chữ ký mang tên “PHÓ GIÁM ĐỐC Ph m Thế Hoàng” và dấu hình tròn có nội dung “VĂN PHÕNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI - SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HẢI PHÕNG; CHI NHÁNH HUYỆN AN DƯƠNG” trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A là giả

+ Chữ ký mang tên “Chủ t ch Lê Anh Quân” t i mục “TM. ỦY BAN NHẤN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG” trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A là giả.

- T i Kết luận giám đ nh số 18/KLGĐ/PC09 ngày 21/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Bùi Trung K; Sinh năm 1984, Số CCCD 031084010186; Đ a chỉ thường trú: số 85 An Chân, An L c 1, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng: Số CQ 333791; Số vào sổ cấp GCN: CS08679 ghi ngày 20/9/2019 (đóng dấu tài liệu cần giám đ nh số: 197/2021 của PC09 - TP. Hải Phòng ký hiệu A) là giả, đư c làm giả b ng phư ng pháp in phun màu.

Xác minh t i Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện An Dư ng và Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện An Dư ng, kết quả các c quan trên không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Bùi Trung K, thửa đất Bùi Trung K đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất giao thông, do Ủy ban nhân dân xã An Hòa, huyện An Dư ng quản lý.

T i C quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hải Phòng b can Bùi Trung K đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như nội dung nêu trên. Lời khai của b can, ph h p với lời khai của người b h i. Lời khai của người làm chứng, kiết quả giám đ nh, c ng với tài liệu chứng cứ khác thu thập đư c trong quá trình điều tra.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình b can Bùi Trung K đã trả cho Bà Kh 24.000.000 đồng tiền lãi và 38.000.000 đồng tiền gốc. Bà Kh yêu cầu b can phải trả tiếp số tiền còn l i là: 562.000.000 đồng.

Vật chứng: 01 điện tho i nhãn hiệu Iphone; 01 điện tho i nhãn hiệu Nokia, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Bùi Trung K, chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý theo quy đ nh.

T i Cáo tr ng số 148/CT-VKSHP-P3 ngày 04/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố b cáo Bùi Trung K về tội Lừa đảo chiếm đo t tài sản quy đ nh t i điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức quy đ nh t i điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

T i phiên tòa: B cáo khai nhận hành vi ph m tội như nội dung cáo tr ng, mục đích làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là để lừa đảo chiếm đo t tài sản. B cáo đã chiếm đo t của bà Nguyễn Th Kh 600.000.000 đồng. B cáo tiếp tục lừa đảo anh H để chiếm đo t 600.000.000 đồng thì b phát hiện.

Công bố lời khai b h i và người làm chứng có nội dung b cáo K đã dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả làm tin để vay số tiền 600.000.000 đồng của bà Nguyễn Th Kh. Sau khi b phát hiện b cáo đã c ng gia đình trả l i 38.000.000 đồng tiền gốc và 24.000.000 đồng tiền lãi, b h i yêu cầu b cáo phải bồi thường tiếp số tiền 562.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Sau khi phân tích hành vi ph m tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác đ nh trách nhiệm dân sự của b cáo đối với b h i. Đ i diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề ngh Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức); Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự xử ph t b cáo Bùi Trung K từ 12 đến 13 năm t về tội Lừa đảo chiếm đo t tài sản và từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng t về tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức. Tổng h p hình ph t buộc b cáo phải chấp hành hình ph t chung cho cả hai tội là từ 16 năm đến 17 năm 06 tháng tù. Miễn hình ph t bổ sung cho b cáo.

Về trách nhiệm dân sự: B cáo phải bồi thường cho Bà Kh số tiền 562.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: T ch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện tho i nhãn hiệu Iphone và 01 điện tho i nhãn hiệu Nokia, đã qua sử dụng; trả l i b cáo 01 căn cước công dân số mang tên Bùi Trung K.

Về án phí và quyền kháng cáo đề ngh Hội đồng xét xử tuyên theo quy đ nh của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho b cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố, luật sư đề ngh Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, bồi thường một phần cho b h i, b cáo có thời gian tham gia quân đội, hoàn cảnh gia đình khó khăn để cho b cáo đư c hưởng mức án thấp h n mức Viện kiểm sát đề ngh và miễn hình ph t bổ sung cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đư c tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của C quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, b cáo không có ý kiến hay khiếu n i về hành vi, quyết đ nh của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Về tội danh: Căn cứ lời khai của b cáo t i phiên tòa ph h p với lời khai t i c quan điều tra, ph h p với lời khai của b h i, người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám đ nh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s vụ án có đủ căn cứ xác đ nh: Do cần tiền để trả n và tiêu xài cá nhân nên Bùi Trung K nảy sinh ý đ nh đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để cầm cố vay tiền nh m mục đích chiếm đo t tài sản. Khoảng tháng 3/2021, K cung cấp thông tin cá nhân của mình và thông tin đ a chỉ thửa đất t i thôn Tỉnh Thủy 2, An Hòa, An Dư ng, Hải Phòng để đặt người có tài khoản Zalo “Tuệ Như” làm giả 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 30/4/2021, Bùi Trung K đã d ng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả làm tin để vay số tiền 600.000.000 đồng của bà Nguyễn Th Kh. Ngày 07/5/2021, K cùng anh Đỗ M nh H mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đến Văn phòng công chứng để làm h p đồng chuyển như ng đất nh m vay tiền của anh H thì b Văn phòng công chứng phát hiện là giả nên đã trình báo Công an huyện An Dư ng. Hành vi của b cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đo t tài sản và tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức quy đ nh t i Điều 174 và Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết đ nh khung: Đối với tội lừa đảo chiếm đo t tài sản, số tiền b cáo Bùi Trung K chiếm đo t của b h i là 600.000.000 đồng nên hành vi ph m tội của b cáo đã vi ph m điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đối với tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức, b cáo đã cung cấp thông tin, thuê người làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi có đư c giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả b cáo đã sử dụng vào việc lừa đảo chiếm đo t tài sản với số lư ng tiền lớn. Tội lừa đảo chiếm đo t tài sản mà b cáo thực hiện thuộc trường h p đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy hành vi ph m tội của b cáo đã vi ph m điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi ph m tội của b cáo đã trực tiếp xâm ph m đến quyền sở hữu về tài sản của người khác đư c pháp luật bảo vệ. Hành vi làm giả tài liệu của c quan, tổ chức và sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức của b cáo đã xâm ph m ho t động đúng đắn của c quan nhà nước tổ chức xã hội làm giảm uy tín và giảm lòng tin của công dân đối với c quan nhà nước, tổ chức xã hội. Vì vậy cần xử ph t nghiêm khắc cách ly b cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục b cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức, trong thời gian ngắn b cáo đã có hành vi làm giả 02 giấy CNQSDĐ. Vì vậy, b cáo phải ch u tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "ph m tội 02 lần trở lên" quy đ nh t i điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i C quan điều tra và t i phiên tòa b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, b cáo đã cùng gia đình bồi thường một phần thiệt h i cho b h i, bản thân b cáo có thời gian tham gia quân đội. Do vậy b cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh t i điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình ph t:

Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi ph m tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của b cáo, căn cứ vào số tiền b cáo chiếm đo t Hội đồng xét xử xét thấy cần xử ph t b cáo mức án trên khởi điểm của khung hình ph t đối với cả 02 tội mới ph h p với quy đ nh của pháp luật.

Về hình ph t bổ sung: Xét thấy b cáo không có công việc và thu nhập ổn đ nh nên miễn hình ph t bổ sung cho b cáo.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho b cáo là có căn cứ đư c Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: B h i là bà Nguyễn Th Kh yêu cầu bồi thường số tiền 562.000.000 đồng tiền gốc và không yêu cầu tiền lãi. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của b h i là chính đáng có căn cứ ph h p với quy đ nh của pháp luật nên chấp nhận buộc b cáo phải bồi thường đầy đủ cho b h i.

Về xử lý vật chứng: 01 điện tho i nhãn hiệu Iphone b cáo d ng vào việc ph m tội; 01 điện tho i nhãn hiệu Nokia không liên quan đến việc ph m tội nhưng t i phiên tòa b cáo không có yêu cầu xin l i nên cần t ch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 01 căn cước công dân số mang tên Bùi Trung K cần trả l i b cáo sử dụng.

Về án phí: B cáo Bùi Trung K phải nộp án phí hình sự s thẩm và án phí dân sự s thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: B cáo, b h i đư c quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Đối với đối tư ng sử dụng tài khoản Zalo có tên Tuệ Như có hành vi làm giả tài liệu của c quan tổ chức nhưng đến nay chưa xác đ nh đư c nhân thân, lai l ch nên C quan điều tra ra Quyết đ nh tách vụ án hình sự, tách hành vi của Tuệ Như để tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy đ nh. Đối với bà Dư ng Th M , là mẹ đẻ của b cáo, c ng Bùi Trung K mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cầm cố cho bà Nguyễn Th Kh lấy số tiền 600.000.000 đồng. Sau khi vay tiền đư c khoảng 10 ngày thì K nói cho bà M biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nhưng bà M không nói cho Bà Kh biết và không đến c quan có thẩm quyền trình báo. Hành vi của Dư ng Th M có dấu hiệu của tội Không tố giác tội ph m. Tuy nhiên, xét Dư ng Th M và Bùi Trung K có quan hệ mẹ con, nhân thân chưa tiền án tiền sự, hành vi vi ph m thuộc trường h p ít nghiêm trọng nên C quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (áp dụng đối với tội Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức); Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự xử ph t Bùi Trung K 13 (mười ba) năm t về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và 04 (bốn) năm t về tội “Làm giả tài liệu của c quan, tổ chức, Sử dụng tài liệu giả của c quan, tổ chức”. Tổng h p hình ph t của 2 tội buộc b cáo phải chấp hành hình ph t chung là 17 (mười bảy) năm t . Thời h n chấp hành hình ph t t tính từ ngày bắt giữ 23 tháng 01 năm 2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự

Buộc b cáo Bùi Trung K bồi thường cho bà Nguyễn Th Kh số tiền 562.000.000 (năm trăm sáu mư i hai triệu) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, b h i có đ n yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng b cáo còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh t i khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tư ng ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

T ch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện tho i nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng, số Imei: 354987076973882, lắp 01 thẻ sim có số seri: 8401201124420395; 01 điện tho i nhãn hiệu Nokia, đã qua sử dụng, số Imei: 353297055909746, lắp 01 thẻ sim số seri: 8401181012076386WD.

Trả l i b cáo: 01 căn cước công dân số 031084010186, cấp ngày 12/8/2019 mang tên Bùi Trung K.

Tình tr ng, đặc điểm các vật chứng thể hiện t i Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03 tháng 10 năm 2022 t i Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc b cáo Bùi Trung K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự s thẩm và 26.480.000 (hai mư i sáu triệu bốn trăm tám mư i nghìn) đồng tiền án phí dân sự s thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: B cáo, có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án s thẩm. B h i có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc từ ngày bản án đư c niêm yết theo quy đ nh pháp luật.

Trường h p Bản án, Quyết đ nh đư c thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ