vanban.org

Bản án 160/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 19/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Ngọc M, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Ngọc M 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Thị Ngọc M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị Ngọc M cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Ngọc M, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2022/HS-PT
Ngày: 19-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 122/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Đoàn Thị Ngọc M do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Ngọc M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2022/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đoàn Thị Ngọc M, sinh năm: 1990 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ x, khu vực y, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Ngọc H, sinh năm: 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1966; chồng: Trần Thanh D, sinh năm: 1986 (đã ly hôn), con: có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/10/2013, bị Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 21/3/2015. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 9 năm 2020, Đoàn Thị Ngọc M cho bà Võ Thị M mượn số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, bà M hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả tiền cho M. Vào ngày 23/7/2021, M đến nhà bà M để đòi nợ, bà M không có tiền trả nên hai bên xảy ra tranh cãi, M bỏ đi về. Đến tối cùng ngày, M đi uống nước với một người bạn quen biết ngoài xã hội tên L (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), rồi L giới thiệu T (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) là chồng sắp cưới của L nên M có nhờ T sáng ngày 24 tháng 7 năm 2021 chở M đến gặp bà M đòi nợ. Vào khoảng hơn 04 giờ 00 phút ngày 24 tháng 7 năm 2021, bà M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn đỏ-đen, biển số 59C2-039.75 đến trước sân ga Diêu Trì thuộc khu phố Vân Hội 2, thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định để bán bánh mỳ, trên xe có mang theo 35 quả trứng gà, 05 đĩa nhựa, 01 chảo chống dính, 05 thau nhựa cùng với đồ bán bánh mỳ. Lúc này, Tín điều khiển xe mô tô chở M đến, M xuống xe đến chỗ bà M để đòi nợ thì bà M nói không có tiền trả nên giữa M và bà M xảy ra tranh cãi, xô xát nhau. Thấy vậy, T đến giữ bà M lại để can ngăn không cho M và bà M xô xát nhau nữa. Sau đó, thấy tình hình lộn xộn nên T điều khiển xe mô tô của mình bỏ về trước, M dắt xe mô tô của bà M đi thì bà M kéo lại nên giữa M và bà M tiếp tục xảy ra xô xát, rồi M lấy cái kéo trên xe mô tô của bà M đe dọa sẽ đánh bà M nếu bà M không thả ra. Lúc này, người dân đến can ngăn, bà M đến Công an thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định báo cáo sự việc trên, còn M dắt bộ chiếc xe mô tô biển số 59C2-039.75 của bà M đi về hướng phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Khi đến ngã ba Diêu Trì thì M điện cho một người tên “Bé Tư” (quen biết ngoài xã hội, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) nhờ đến đẩy xe về nhà của M. Sau đó, Công an thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước yêu cầu M đến trụ sở làm việc, M đã giao nộp chiếc xe mô tô biển số 59C2-039.75 nêu trên. Bà M báo mất số tiền 6.000.000 đồng để trong túi áo khoác đen và giấy tờ xe bỏ trong cốp xe.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước đã tạm giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn đỏ - đen, biển số 59C2-039.75 do Đoàn Thị Ngọc M giao nộp; tạm giữ của bà Võ Thị M 01 chiếc chảo bằng kim loại hình tròn đường kính 18cm, màu đen, không có cán và 01 cây kéo cán bằng nhựa màu cam dài 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 07cm.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐ ngày 30/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước kết luận thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn đỏ đen, biển số 59C2-039.75 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 9.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Đoàn Thị Ngọc M đã bồi thường cho bà Võ Thị Mai số tiền 6.000.000 đồng để khắc phục các thiệt hại về tài sản do mình gây ra. Bà M đã viết đơn bãi nại và không còn yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2022/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị Ngọc M 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 27/6/2022, bị cáo Đoàn Thị Ngọc M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm mức hình phạt cho bị cáo từ 02 đến 04 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:

Xuất phát từ việc bà Võ Thị M mượn của bị cáo 5.000.000 đồng, bị cáo nhiều lần đòi lại tiền nhưng bà Mai không trả nên sáng ngày 24 tháng 7 năm 2021 bị cáo đến ga Diêu Trì thuộc khu phố Vân Hội 2, thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định nơi bà M bán bánh mỳ để đòi nợ thì giữa bị cáo và bà M xảy ra tranh cãi, xô xát nhau. Bị cáo dắt xe mô tô Honda, loại Airblade của bà M đi thì bà M kéo lại nên giữa bị cáo và bà M tiếp tục xảy ra xô xát. Bị cáo lấy cái kéo trên xe mô tô của bà M đe dọa sẽ đánh bà M nếu bà M không thả ra. Lúc này, người dân đến can ngăn, bà M đến Công an thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định báo cáo sự việc trên, còn bị cáo dắt bộ chiếc xe mô tô biển số 59C2-039.75 của bà M về nhà của bị cáo.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐ ngày 30/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước kết luận thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, màu sơn đỏ đen, biển số 59C2-039.75 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 9.000.000 đồng.

Do đó Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước xét xử bị cáo Đoàn Thị Ngọc M về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Khi quyết định mức hình phạt, Tòa án cấp sở thâm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù, bằng với mức khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố là đã có sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không chấp hành theo triệu tập của cơ quan tố tụng điều đó thể hiện bị cáo là người xem thường kỷ cương, pháp luật của nhà nước nên việc cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, không đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Đoàn Thị Ngọc M phải chịu 200.000 đồng.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Ngọc M, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

2. Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Ngọc M 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Thị Ngọc M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ