vanban.org

Bản án 160/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến S.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 21-01-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Nguyễn Tiến S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 10-5-2021 đến ngày 06-8-2021… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến S - phạm tội giả mạo trong công tác (điều 359 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến S.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 359 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2022/HS-PT
Ngày: 22-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Long.

Bà Lê Thúy Cầu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Thƣ ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 22-4-2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2022/TLPT-HS ngày 01-3-2022 đối v i bị cáo Nguyễn Tiến S, do có kháng cáo của bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 21-01-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Tiến S, sinh ngày 08-12-1972, tại Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: huyện Đ, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; gi i tính: Nam; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: Nguyên Phó trƣởng Công an xã I, huyện Đ; là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (Ủy ban kiểm tra huyện ủy Đ quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 10-5-2021); con ông Nguyễn Tiến C và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); vợ là Lê Thị T và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam ngày 10-5-2021, đến ngày 06-8-2021 đƣợc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho Bảo Lĩnh. Hiện đang tại ngoại nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa.

(Vụ án còn có bị cáo Lê Thị Thanh T không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09-12-2019, Công an Cửa khẩu Cảng hàng không Quốc tế T thuộc Cục Quản lý Xuất nhập cảnh tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính đối v i Lê Thị Thanh T, sinh năm 1979, trú tại tỉnh Quảng Nam về hành vi sử dụng Hộ chiếu số C7548940 cấp ngày 13-6-2019 mang tên Lê Thị Thanh T (sinh ngày 02-11-1985) để xuất cảnh.

Qua kiểm tra, rà soát công tác xuất nhập cảnh, Phòng Phòng chống xuất nhập cảnh trái phép và xử lý vi phạm xuất nhập cảnh, thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an phát hiện Lê Thị Thanh T có dấu hiệu sử dụng hộ chiếu giả để xuất cảnh trái phép. Do đó, đã chuyển hồ sơ vụ việc Lê Thị Thanh T đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai thụ lý giải quyết. Quá trình điều tra xác định:

Từ tháng 10-2017 đến tháng 3-2019, Lê Thị Thanh T (sinh năm 1979) trú tại tỉnh Quảng Nam đi xuất khẩu lao động (nghề thợ may) tại Cộng hòa L bang Nga (sau đây viết tắt là CHLB Nga). Đến tháng 4-2019, T bị trục xuất về Việt Nam do quá hạn thị thực (VISA). Sau khi T về nƣ c, một ngƣời tên C (chƣa xác định đƣợc nhân thân) làm nghề may v i T sử dụng tài khoản facebook “C Nguyễn” nhắn tin qua tài khoản facebook “ANNALE” của T và hỏi “Khi nào T sang CHLB Nga làm việc”, T trả lời “Bị Nga trục xuất, nên trong vòng 05 năm sẽ không đƣợc xuất cảnh sang CHLB Nga”. Sau đó, do muốn tiếp tục xuất cảnh sang CHLB Nga lao động, nên T hỏi C thủ tục, C nói “T thay đổi thông tin cá nhân làm Chứng minh nhân dân và hộ chiếu giả để xuất cảnh” và C cho T số điện thoại 0935730345 của Nguyễn Tiến S là Phó trƣởng Công an xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai và nói T liên hệ trực tiếp v i S để đƣợc hƣ ng dẫn cụ thể.

Sau đó, T liên lạc v i Nguyễn Tiến S và nói muốn làm Chứng minh nhân dân (sau đây viết tắt là CMND), hộ chiếu mang tên ngƣời khác để đi xuất khẩu lao động tại CHLB Nga, vì T bị CHLB Nga trục xuất về nƣ c nên không sử dụng hộ chiếu của T để xuất cảnh đƣợc. S đồng ý và nói chi phí là 25.000.000 đồng rồi hƣ ng dẫn T mƣợn CMND của ngƣời thân hoặc bạn bè, cung cấp thông tin cha mẹ, anh chị em của ngƣời mƣợn và chụp ảnh thẻ 3 x 4 của T gửi qua tài khoản Zalo “Nguyễn Tiến S” để S lấy thông tin nhập khẩu và làm đơn đề nghị cấp CMND cho T, nhƣng mang tên ngƣời khác. Theo hƣ ng dẫn, T mƣợn CMND của Lê Thị Thanh T, sinh ngày 02-11-1985, trú tại: huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (là cháu của T) rồi T sử dụng tài khoản Zalo “TaiLe” gửi qua tài khoản Zalo “Nguyễn Tiến S” các thông tin và ảnh 3 x 4 của T.

Sau khi có các thông tin do T cung cấp, S điền họ tên Lê Thị Thanh T và các thông tin (ngày tháng năm sinh, tên cha mẹ…) vào Đơn đề nghị cấp CMND và dán ảnh của T vào. S ký tên dƣ i mục “Xác nhận của Công an xã - Phó trƣởng Công an xã”. Để nhập khống hộ khẩu cho Lê Thị Thanh T bằng tên của Lê Thị Thanh T, S lấy quyển sổ hộ khẩu cũ của một hộ gia đình nộp tại Công an xã đã đổi sổ m i rồi ghi thông tin của Lê Thị Thanh T vào quyển sổ hộ khẩu này. Đơn đề nghị cấp CMND và sổ hộ khẩu đều đƣợc đóng dấu tròn của Công an xã I. Sau đó, S thông báo cho T biết và hẹn T đến thành phố P, tỉnh Gia Lai để S dẫn đi làm CMND. Khoảng 3 ngày sau, T từ Quảng Nam lên P và điện thoại cho S. S hẹn gặp T tại Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính Công an tỉnh Gia Lai. Khi gặp, S đƣa cho T Đơn đề nghị cấp CMND mà S đã ghi tên Lê Thị Thanh T và nói T ký tên Lê Thị Thanh T dƣ i mục “Ngƣời làm đơn”. Đồng thời, S đƣa cho T 01 quyển sổ hộ khẩu, bên trong có thông tin của Lê Thị Thanh T và nói T vào làm CMND. Sau khi T làm xong thủ tục cấp CMND, S yêu cầu T đƣa quyển sổ hộ khẩu trên cho S và T đƣa cho S 25.000.000 đồng, S cho T 2.000.000 đồng để đi xe về Quảng Nam và dặn T khi nào nhận đƣợc CMND, thì điện thoại cho S để S dẫn đi làm hộ chiếu. Ngày 25-4-2019, T đƣợc Công an tỉnh Gia Lai cấp CMND số 231432214, mang tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 02-11-1985.

Đầu tháng 5-2019, T thông báo cho S biết đã nhận đƣợc CMND và khi nào làm hộ chiếu T sẽ liên lạc v i S. S dặn T khi đi làm hộ chiếu, thì mang theo 02 ảnh 4 x 6. Ngày 06-6-2019, T từ Quảng Nam lên P và liên lạc v i S. S hẹn gặp T tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Gia Lai. Khi gặp, S đƣa cho T quyển sổ hộ khẩu mà trƣ c đây S đã đƣa cho T đi làm thủ tục cấp CMND và nói T vào làm hộ chiếu. T vào Phòng Quản lý xuất nhập cảnh và tự kê khai “Họ và tên”: Lê Thị Thanh T, CMND số 231432214, điền các thông tin vào Tờ khai (dùng cho công dân Việt Nam đề nghị cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông ở trong nƣ c) và dán ảnh của T vào. Sau khi làm xong thủ tục xin cấp hộ chiếu, S yêu cầu T đƣa lại quyển sổ hộ khẩu cho S. Ngày 13-6-2019, T đƣợc cấp hộ chiếu số C7548940 mang tên Lê Thị Thanh T.

Sau khi nhận đƣợc hộ chiếu, thông qua mạng xã hội T kết bạn v i tài khoản Facebook “Phạm H (visa Châu Âu)” của Phạm Văn H (quê quán: huyện Y, tỉnh Nghệ An, hiện đang sinh sống tại Nga) để trao đổi về việc xin thị thực (VISA) đi CHLB Nga lao động. H đồng ý v i chi phí 1.400 USD nhƣng phải đặt cọc trƣ c 500 USD, số tiền còn lại khi sang đến nơi thì thanh toán hết. Do chƣa có tiền nên T hẹn khi nào có tiền sẽ liên lạc v i H.

Giữa tháng 8-2019, T tìm hiểu và biết Cửa khẩu L, thuộc huyện Đ, tỉnh Gia Lai đi sang Campuchia không cần xin thị thực. Ngày 13-8-2019, T sử dụng Hộ chiếu số C7548940 mang tên Lê Thị Thanh T làm thủ tục xuất cảnh sang Campuchia và cùng ngày T quay trở về Việt Nam.

Ngày 27-9-2019, Lê Thị Thanh T nhờ chị Võ Thị Cẩm T (là chị của T) chuyển 11.600.000 đồng (tƣơng đƣơng 500 USD) cho H thông qua tài khoản 0591000280448 của Lê Thị H (là em của H). Sau đó, T báo cho H biết đã chuyển tiền đặt cọc. H nói T gửi hộ chiếu ra Hà Nội cho H theo địa chỉ: Trần Thị L, Thành phố Hà Nội. Đầu tháng 12-2019, H thông báo cho T biết đã xin đƣợc thị thực, ngày 07-12-2019, sẽ xuất cảnh tại sân bay T - Thành phố Hồ Chí Minh. H sẽ gửi lại hộ chiếu và vé đặt chỗ máy bay cho T.

Ngày 07-12-2019, T sử dụng hộ chiếu mang tên Lê Thị Thanh T xuất cảnh sang CHLB Nga. Tuy nhiên, khi đến Nga trong lúc phỏng vấn tại sân bay, T trả lời thông tin không trùng kh p v i mục đích đi sang Nga, nên T bị trả về nƣ c và ngày 09-12-2019, T về đến Việt Nam thì bị Công an Cửa khẩu Cảng hàng không Quốc tế T thuộc Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính.

Ngoài ra, khoảng tháng 7-2019, Lê Thị Thanh T nói cho Trần Xuân T, sinh năm 1991, trú tại: huyện H, tỉnh Nam Định, cùng làm nghề may v i T khi còn ở CHLB Nga và cũng bị trục xuất về nƣ c biết việc T nhờ Nguyễn Tiến S làm giả CMND và hộ chiếu mang tên ngƣời khác để đi Nga. T cho T số điện thoại của S để trực tiếp trao đổi. T đã liên lạc và thỏa thuận v i S về việc T nhập khẩu, làm CMND mà không cần cắt khẩu vào tỉnh Gia Lai. S đồng ý làm v i giá 10.000.000 đồng và nói T chuẩn bị ảnh thẻ 3 x 4 rồi hẹn T đến xã I. huyện Đ, tỉnh Gia Lai gặp S. Vài ngày sau, T gặp S tại Công an xã I, S đƣa cho T Đơn đề nghị cấp CMND và nói T điền đầy đủ các thông tin vào trong đơn. Do bận việc gia đình, nên S dặn T khi nào xong thì gọi cho S và ở đó đợi để S nhờ ngƣời ký đơn. Sau đó, S điện thoại cho ông Rơ Châm L (Trƣởng Công an xã I) nhờ ông L ký xác nhận vào Đơn đề nghị cấp CMND cho cháu S để làm CMND xin việc làm. S hẹn T ngày mai sẽ dẫn T đi làm CMND. Sau đó, S lấy quyển sổ hộ khẩu mà trƣ c đây S đã nhập khẩu khống tên Lê Thị Thanh T rồi ghi thông tin của Trần Xuân T vào quyển sổ hộ khẩu này. Ngày hôm sau, S và T đến Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính Công an tỉnh Gia Lai để làm CMND. S đƣa Đơn đề nghị cấp CMND và sổ hộ khẩu trên cho T vào làm CMND. Sau khi làm xong thủ tục cấp CMND, T đƣa sổ hộ khẩu và 10.000.000 đồng cho S. Ngày 21-8-2019, T vào Thành phố Hồ Chí Minh và sử dụng CMND này để làm Tờ khai (dùng cho công dân Việt Nam đề nghị cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông trong nƣ c). Ngày 23-8-2019, T đƣợc cấp Hộ chiếu số C8035217 và xuất cảnh đi nƣ c ngoài, hiện chƣa có thông tin nhập cảnh.

Đối v i sổ hộ khẩu có thông tin Lê Thị Thanh T và Trần Xuân T, S khai tháng 8-2020, S đã tiêu hủy nên không thu giữ đƣợc.

- Tại Kết luận giám định số 35/KLGĐ ngày 31-12-2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận:

Chữ ký, chữ viết họ tên “Lê Thị Thanh T” dƣ i mục “NGƢỜI LÀM ĐƠN (ký, ghi rõ họ tên)”, “Ngƣời đề nghị (ký, ghi rõ họ tên)” trên “ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP CHỨNG MINH NHÂN DÂN”, “TỜ KHAI” (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2) so v i chữ ký, chữ viết của Lê Thị Thanh T trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một người ký và viết ra.

- Tại kết luận giám định số 33/KLGĐ ngày 04-01-2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận:

Dấu vân tay in tại các ô “Ngón trỏ phải”, “Ngón trỏ trái” trên Tờ khai CMND số 231432214, ghi họ tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 02-11-1985; nơi ĐKHKTT: Ia Lâm, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (mẫu cần giám định) v i dấu vân tay in tại các ô “Trỏ phải”, “Trỏ trái” trên Chỉ bản lập ngày 03-12-2020 của Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Gia Lai ghi họ tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 20-3-1979; nơi ĐKTT: tỉnh Quảng Nam (mẫu so sánh) là dấu vân tay do cùng một người in ra.

Dấu vân tay in trên chỉ bản số 231432214, ghi họ tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 02-11-1985; nơi ĐKHKTT: Xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (mẫu cần giám định) v i dấu vân tay tƣơng ứng in trên Chỉ bản lập ngày 03-12-2020 của Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Gia Lai ghi họ tên Lê Thị Thanh T, sinh ngày 20-3-1979; nơi ĐKTT: tỉnh Quảng Nam (mẫu so sánh) là dấu vân tay do cùng một người in ra.

- Tại Kết luận giám định số 273/KLGĐ ngày 19-4-2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận:

Chữ ký đứng tên “Nguyễn Tiến S” dƣ i mục “XÁC NHẬN CỦA CÔNG AN XÃ (Phƣờng/xã/thị trấn nơi ĐKHK thƣờng trú)” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A1) so v i chữ ký của “Nguyễn Tiến S” trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M2 đến M11) là do cùng một người ký ra.

Chữ viết trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A1) {trừ chữ viết có nội dung “214 25-4-19” tại dòng thứ 1 (tính từ trên xuống); chữ viết có nội dung “chƣa làm ở Gia Lai” tại dòng thứ 20 (tính từ trên xuống) và chữ viết họ tên “Lê Thị Thanh T” dƣ i mục “NGƢỜI LÀM ĐƠN (Ký, ghi rõ họ tên)} trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1) so v i chữ viết của “Nguyễn Tiến S” trên các mẫu so sánh (ký hiệu M6, M11) là do cùng một người viết ra.

Chữ viết trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A2) so v i chữ viết của “Nguyễn Tiến S” trên các mẫu so sánh (ký hiệu M6, M11) là không phải do cùng một người viết ra.

Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG AN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI CÔNG AN XÃ I” dƣ i mục “XÁC NHẬN CỦA CÔNG AN XÃ (Phƣờng/xã/thị trấn nơi ĐKHK thƣờng trú)” và đƣợc đóng dấu giáp lai trên ảnh trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so v i hình dấu tròn có cùng nội dung trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một con dấu đóng ra.

- Tại Kết luận giám định số 275/KLGĐ ngày 23-4-2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận:

Chữ viết trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A) so v i chữ viết của Rơ Châm L trên các mẫu so sánh (ký hiệu M5, M6 và M7) không phải do cùng một người viết ra.

+ Chữ ký đứng tên “Rơ Châm L” dƣ i mục “XÁC NHẬN CỦA CÔNG AN I (Phƣờng/xã/thị trấn nơi ĐKHK thƣờng trú)” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so v i chữ ký của Rơ Châm L trên các mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M7) do cùng một người ký ra.

Hình dấu tròn có nội dung CÔNG AN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI CÔNG AN XÃ I” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so v i hình dấu tròn có cùng nội dung trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ M1 đến M4) do cùng một con dấu đóng ra.

Tại B n án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 21-01-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Giả mạo trong công tác”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 359; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Nguyễn Tiến S 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (đƣợc trừ thời hạn tạm giam từ ngày 10-5-2021 đến ngày 06-8-2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối v i bị cáo Lê Thị Thanh T, quyết định về biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27-01-2022, Nguyễn Tiến S kháng cáo xin giảm hình phạt và đƣợc hƣởng án treo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết qu tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Ngày 27-01-2022, Nguyễn Tiến S kháng cáo bản án; đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Tiến S giữ nguyên kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị giảm hình phạt.

. Xét kháng cáo của bị cáo:

. Về tội danh:

Nguyễn Tiến S nguyên là Phó trƣởng Công an xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, là ngƣời có nhiệm vụ giải quyết việc chuyển khẩu, nhập khẩu cho công dân. Do đó, khi đƣợc Lê Thị Thanh T trình bày nguyện vọng muốn làm CMND và hộ chiếu mang tên ngƣời khác để đi xuất khẩu lao động, thì S hƣ ng dẫn T mƣợn CMND của ngƣời thân hoặc bạn bè; cung cấp thông tin cha mẹ, anh chị em của ngƣời mƣợn và chụp ảnh thẻ 3 x 4 của T gửi cho S. Theo hƣ ng dẫn của S, T đã lấy CMND của Lê Thị Thanh T (là cháu T) đƣa cho S. S biết rõ nhƣng vẫn lấy hộ khẩu cũ của ngƣời dân rồi tự nhập khống hộ khẩu và ký xác nhận Đơn xin cấp CMND cho Lê Thị Thanh T bằng tên của Lê Thị Thanh T. Ngoài ra, S còn nhập khống hộ khẩu và nhờ Rơ Châm L (nguyên Trƣởng Công an xã) ký xác nhận đơn xin cấp CMND cho Trần Xuân T, trong khi T không có hộ khẩu tại xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Khi đã có các giấy tờ nhập khẩu tại xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai v i thông tin Lê Thị Thanh T, Lê Thị Thanh T đƣợc S dẫn đến Công an tỉnh Gia Lai làm CMND. Sau khi có CMND, T tiếp tục đến Công an tỉnh Gia Lai làm hộ chiếu và dùng thông tin giả trên CMND và hộ chiếu để nhiều lần thực hiện thủ tục xuất cảnh. Lê Thị Thanh T đã sử dụng hộ chiếu xuất cảnh sang Campuchia rồi nhập cảnh về Việt Nam và dùng hộ chiếu xuất cảnh sang CHLB Nga.

V i hành vi phạm tội nhƣ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Tiến S về tội “Giả mạo trong công tác”, v i 02 tình tiết định khung “Ngƣời phạm tội là ngƣời có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu” và “Làm, cấp giấy tờ giả v i số lƣợng từ 02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về hình phạt:

Nguyễn Tiến S là Phó trƣởng Công an xã I, bị cáo có đủ nhận thức để đánh giá và phân biệt đƣợc việc làm của mình, biết rõ sử dụng nhân thân, lý lịch của ngƣời này để làm CMND cho ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì hám lợi, bị cáo hai lần thực hiện hành vi phạm tội để thu lợi bất chính 33.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣ c, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, có nhƣ vậy m i đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục đối v i bị cáo, cũng nhƣ ngăn chặn và phòng ngừa chung đối v i loại tội phạm này. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính; quá trình công tác bị cáo nhiều lần đƣợc Chủ tịch UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND xã I, Đảng bộ xã I, Cục trƣởng cục thuế tỉnh Gia Lai tặng nhiều Giấy khen, Giám đốc Công an tỉnh Gia Lai nhiều lần tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phƣơng; bị cáo có ông ngoại là Liệt sỹ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có việc làm và 03 con nhỏ; ngoài ra, quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính còn lại là 10.000.000 đồng, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây đƣợc coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhƣ vậy, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự m i, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ giảm hình phạt tù cho bị cáo để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Nhƣ vậy, kháng cáo của bị cáo đã đƣợc Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét và có cơ sở để chấp nhận một phần.

. Các biện pháp tƣ pháp: Mặc dù, Nguyễn Tiến S chỉ kháng cáo về hình phạt, nhƣng do tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tiền đã bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣ c, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết cả nội dung này.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

. Về án phí: Do kháng cáo đƣợc chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến S.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HSST ngày 21-01-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 359; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Tiến S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 10-5-2021 đến ngày 06-8-2021).

3. Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Buộc Nguyễn Tiến S nộp 33.000.000 tiền thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nƣ c. Khấu trừ số tiền 23.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000451 ngày 07-12-2021 và 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000613 (không đề ngày), đều của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Bị cáo đã nộp đủ tiền thu lợi bất chính.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nguyễn Tiến S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ