vanban.org

Bản án 160/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, [1] Về hôn nhân: Bà C T T H được ly hôn với ông T V M.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Châu Thị Thu Hương với ông Tạ Văn Mạnh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17-11-2022
V/v Ly hôn giữa bà H và ông M.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đặng Hồng Phước

Ông Huỳnh Văn Năng

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Minh Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng

3 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

243/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2022 và Quyết định Hoãn

phiên tòa số 201/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà C T T H, sinh ngày 04-4-1992

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 12-4-2019

Nơi cư trú: Tổ 21, ấp H T, xã H B T, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 27-10-2022

2.Bị đơn: Ông T V M, sinh năm 1989

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 12-4-2019

Nơi cư trú: Số nhà 95, ấp Đ P I, xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai ngày 25-01-2022, Đơn xin xét xử

vắng mặt ngày 27-10-2022, nguyên đơn bà C T T H trình bày:

+Về hôn nhân: Bà và ông T V M kết hôn năm 2010, hôn nhân do mai mối,

có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang số 11/2015 ngày 26-01-2015. Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng, đến năm 2012 vợ chồng lên tỉnh Bình Dương sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, ông M ham mê cờ bạc, gây nợ nần; ông M mắng chửi và nhiều lần đánh bà; dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 4/2021 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông M, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông T V M.

+Về con chung: Có 03 con chung tên T T H, sinh ngày 19-8-2011; T L T,

sinh ngày 07-11-2016 và T T P, sinh 25-8-2020. Hiện ông M đang nuôi 2 con tên H và T; bà đang nuôi con tên P. Nếu ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên P. Đối với H và T thì tùy vào nguyện vọng của con; nếu con muốn sống với bà thì bà đồng ý nuôi con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

+Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2

lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T V M, nhưng ông M vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 16-9-2022, Tòa án đến nhà ông M để ghi lời khai, nhưng ông M vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của ông M. Ngày 07-9-2022 và ngày 23-9-2022, Tòa án đến nhà ông M để ghi lời khai cháu T T H và cháu T L T, nhưng cháu H và cháu T vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của cháu H và cháu T.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho bà H nuôi con tên P, ổn định cho ông M nuôi con tên H và T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà C T T H, bị đơn ông T V M,

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông M vẫn vắng

mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự,

Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với

nguyên đơn bà H và bị đơn ông M.

[2] Về hôn nhân: Bà C T T H và ông T V M kết hôn năm 2010, hôn nhân

do mai mối, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V T, huyện

C T, tỉnh An Giang số 11/2015 ngày 26-01-2015 theo quy định tại Điều 9 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp

luật bảo vệ. Bà H có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa

giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà H và ông M, nhưng ông M nhiều lần vắng

mặt nên không hòa giải được.

Xét thấy: Năm 2021 giữa bà H và ông M phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất

đồng trong cuộc sống, ông M ham mê cờ bạc, gây nợ nần; ông M mắng chửi và

nhiều lần đánh bà H; dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng

4/2021 bà H và ông M sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến

nay cả bà H và ông M đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng.

Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông M là trầm trọng, đời sống chung

không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định

của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội

đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà H được ly hôn

với ông M là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Bà H và ông M có 03 con chung. Hiện bà H đang nuôi

con tên P, ông M đang nuôi con tên H và T. Khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp

tục nuôi con tên P. Ông M không có ý kiến.

Xét thấy: Cháu H đã trên 11 tuổi, cháu T trên 6 tuổi, hiện ông M đang nuôi

2 cháu. Ngày 07-9-2022 và ngày 23-9-2022, Tòa án đến nhà ông M để ghi lời

khai 2 cháu xem nguyện vọng 2 cháu muốn sống với ai khi bà H và ông M ly

hôn, nhưng 2 cháu không có mặt tại nhà nên không ghi được ý kiến 2 cháu. Đối

với cháu P chỉ hơn 2 tuổi, hiện bà H nuôi con chu đáo. Đối chiếu với quy định

của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì

vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của các

cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng con

chung tên P, ông M được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên H và tên T là phù

hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi

con. Ông M không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết. Ông M không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem

xét.

[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002995 ngày 03-3-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà H, bị đơn ông M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Về hôn nhân: Bà C T T H được ly hôn với ông T V M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2015 ngày 26-01-2015 của UBND xã V T,

huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Bà C T T H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên T T P, sinh 25-8-2020.

Ông T V M được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên T T H, sinh ngày 19-8-

2011 và T L T, sinh ngày 07-11-2016.

Bà C T T H (ông T V M) và các thành viên trong gia đình bà H (ông M)

không được cản trở ông T V M (bà C T T H) trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông T V M (bà C T T H) lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh

hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H (ông M) có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông M (bà H) theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà C T T H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn

đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm

ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí

tòa án số 0002995 ngày 03-3-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu

Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà C T T H, bị đơn ông T V M vắng

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ