vanban.org

Bản án 160/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 20/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo Võ Thị Thu H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi Hnh án. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cá…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ VY
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2021/HS-ST
Ngày 20 tháng 12 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ VY, TỈNH VĨNH PHÚC

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Vũ Gia Đính, Nguyên Phó phòng Giáo dục và đào tạo tHnh phố VY.

- Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Giáo viên nghỉ hưu.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân tHnh phố VY.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố VY tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tHnh phố VY, Tòa án nhân dân tHnh phố VY xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 168/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

1. Võ Thị Thu H, sinh ngày 12/9/2003, tại H Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Bình Minh, xã CB, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh H Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Tân và bà Nguyễn Thị Năng; chồng: Nguyễn Đăng Quân: con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Ngân Hng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc; người đại diện: Ông Trần Văn C, Giám đốc chi nhánh. Người đại diện theo uỷ quyền chị Nguyễn Thị Kiều Ng, Nhân viên ngân Hng;

Địa chỉ: 392A, đường Mê Linh, phường Khai Quang, tHnh phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc. (vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị Thảo, sinh ngày 25/6/2003; địa chỉ: Thôn Thường Nguyên, xã Thạch Kênh, huyện Thạch H, tỉnh H Tĩnh, (vắng mặt).

Chị Phạm Thị Thuý Hg, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nH 41, ngõ 23 đường Nguyễn Tất THnh, phường LB, tHnh phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc. (vắng mặt).

Chị Nguyễn Thị Kiều Ng, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số nH 10, ngõ 13 đường Đầm Vạc, phường DD, tHnh phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 01/2021, chị Đặng Thị Thảo, sinh năm 2003, trú tại: xã Thạch Kênh, huyện Thạch H, tỉnh H Tĩnh và Võ Thị Thu H, sinh năm 2003, trú tại: xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh H Tĩnh cùng thuê phòng trọ ở tại thôn Trại Cúp, xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để ăn ở và sinh hoạt cùng nhau. Ngày 04/3/2021, khi chị Thảo đi làm còn H nghỉ một mình ở phòng trọ, đến chiều cùng ngày H nhìn thấy Giấy chứng minh nhân dân của chị Thảo để trên bàn trong phòng trọ. H lấy Giấy chứng minh nhân dân số 18442158 mang tên Đặng Thị Thảo và đi một mình đến Ngân Hng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Chi nhánh Vĩnh Phúc, địa chỉ: số 392A, đường Mê Linh, phường Khai Quang, tHnh phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây H gặp giao dịch viên là chị Phạm Thị Thúy Hg, H xuất trình Giấy chứng minh nhân dân của chị Thảo và yêu cầu chị Hg kiểm tra số tiền trong tài khoản. Chị Hg thông báo số tiền trong tài khoản số 1016287900 là 88.000.000đ (Tám mươi tám triệu đồng) H yêu cầu rút 5.000.000đ (Năm triệu đồng), chị Hg yêu cầu H kéo khẩu trang xuống để xác nhận nhưng do sơ xuất và không nhìn kỹ mặt của H nên chị Hg không biết H không phải là chủ tài khoản và vẫn cho H làm thủ tục rút tiền và ký tên vào phiếu rút tiền, H đã giả mạo chữ ký của chị Thảo nên chị Hg không phát hiện ra và cho H rút tiền. Sau khi rút được 5.000.000đ, H tiếp tục dùng thủ đoạn như trên đến gặp giao dịch viên là chị Nguyễn Thị Kiều Ng rút tiếp số tiền 83.000.000đ (Tám mươi ba triệu đồng) trong tài khoản của chị Thảo. Do sơ xuất chị Ng cũng không phát hiện ra H không phải là chủ tài khoản và cũng làm thủ tục cho H rút được số tiền 83.000.000đ (Tám mươi ba triệu đồng). Sau khi chiếm đoạt tổng số tiền là 88.000.000đ (Tám mươi tám triệu đồng), H quay về phòng trọ và để Giấy chứng minh nhân dân của chị Thảo lại vào chỗ cũ rồi đón xe đi tHnh phố H Nội chơi.

Ngày 05/3/2021, sau khi phát hiện bị mất tiền trong tài khoản, chị Thảo liên hệ với H để đòi tiền và đến ngân Hng thông báo về việc bản thân là người có Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đặng Thị Thảo bị bạn cùng phòng là H sử dụng Giấy chứng minh nhân dân của mình chiếm đoạt mất tổng số tiền 88.000.000đ trong tài khoản số 1016287900. Cùng ngày H đã đến Ngân Hng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và Ngân Hng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam tại khu vực thuộc phường Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm, tHnh phố H Nội gửi trả tiền vào tài khoản của chị Thảo 02 lần, số tiền lần lượt là 28.000.000đ và 29.000.000đ (tổng hai lần là 57.000.000đ) và hứa sau 1 tháng sẽ trả số tiền 31.000.000đ còn lại. Ngày 26 và 27/04/2021, chị Phạm Thị Thúy Hg và chị Nguyễn Thị Kiều Ng đã đến Cơ quan Ngoại an tHnh phố VY trình báo sự việc.

Tại Kết luận giám định số 2140/KLGĐ ngày 01/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Ngoại an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chữ ký dạng chữ viết có nội dung: “Thảo Đặng Thị Thảo” dưới mục: “CHỦ TÀI KHOẢN KÝ & ĐÓNG DẤU” và dưới mục “NGƯỜI NHẬN TIỀN KÝ” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ viết của Võ Thị Thu H trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người viết ra.

Về bồi thường dân sự: Ngày 22/6/2021, Võ Thị Thu H đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Ngoại an tHnh phố VY số tiền 31.000.000đ để bồi thường khắc phục hậu quả. Ngày 29/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Ngoại an tHnh phố VY đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Kiều Ng số tiền 31.000.000đ do H giao nộp để chuyển vào tài khoản của chị Thảo. Sau đó, chị Thảo đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác

Tại Cáo trạng số 162/QĐ-VKSTP.VY ngày 29/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố VY,tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Võ Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo H khai nhận Hnh vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Võ Thị Thu H giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thị Thu H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Võ Thị Thu H từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi Hnh án;

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Người đại theo uỷ quyền Ngân Hng TMCP ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc; chị Nguyễn Thị Kiều Ng, Nhân viên ngân Hng và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại các biên bản ghi lời khai trình bày: Chị Ng là nhân viên giao dịch của Ngân Hng TMCP ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc. Chiều ngày 04/3/2021 chị Ng đang làm việc tại quầy giao dịch số 9 tầng 1 thì có một bạn nữ xuất trình chứng minh nhân dân mang tên Đặng Thị Thảo yêu cầu chị kiểm tra số tiền trong tài khoản, sau khi kiểm tra chứng minh nhân dân và kiểm tra tài khoản thấy có số dư khoảng 83.000.000đ, người nữ giới đề nghị rút 83.000.000đ, chị Ng yêu cầu nữ giới kéo khẩu trang xuống để xem mặt thấy giống, chị Ng đã làm thủ tục rút 83.000.000đ cho khách Hng. Ngày 05/3/2021 có một người nữ giới tự xưng là Nguyễn Thị Thảo đến Ngân Hng trình bày bị rút tiền trong tài khoản, sau khi chị Ng cùng Ngân Hng kiểm tra và xác minh đã liên hệ được người tên là H giả mạo chị Thảo và yêu cầu trả lại số tiền đã rút chị H đã chuyển trả lại chị Thảo 57.000.000đ còn 31.000.000đ chị H khất trả sau, do H không trả nên, Ngân Hng TMCP ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc đã trình báo cơ quan ngoại an. Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân Hng TMCP ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc đã ứng ra trả cho chị Thảo số tiền 31.000.000đ. Ngày 22/6/2021 H đã nộp tại cơ quan điều tra, Ngoại an tHnh phố VY số tiền 31.000.000đ. Ngày 29/9/2021 Cơ quan điều tra, Ngoại an tHnh phố VY đã trả số tiền trên cho Ngân Hng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc. Nay Ngân Hng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc và chị không có yêu cầu gì khác.

Chị Phạm Thị Thuý Hg trình bày: Chiều ngày 04/3/2021, có một người nữ giới đến quầy giao dịch số 10 tầng 1 nơi chị Hg làm giao dịch viên, người nữ giới này xuất trình Giấy chứng minh nhân dân của chị Thảo (sau này chị mới biết là H) và yêu cầu chị Hg kiểm tra số tiền trong tài khoản. Chị Hg thông báo số tiền trong tài khoản số 1016287900 là 88.000.000đ (Tám mươi tám triệu đồng) H yêu cầu rút 5.000.000đ (Năm triệu đồng), chị Hg yêu cầu H kéo khẩu trang xuống để xác nhận nhưng do sơ xuất và không nhìn kỹ mặt của H nên chị Hg không biết H không phải là chủ tài khoản và vẫn cho H làm thủ tục rút tiền và ký tên vào phiếu rút tiền, H đã giả mạo chữ ký của chị Thảo nên chị Hg không phát hiện ra và cho H rút tiền.

Chị Đặng Thị Thảo trình bày: Khoảng tháng 01/2021, chị Đặng Thị Thảo trú tại: xã Thạch Kênh, huyện Thạch H, tỉnh H Tĩnh và Võ Thị Thu H, trú tại: xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh H Tĩnh cùng thuê phòng trọ ở tại thôn Trại Cúp, xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để ăn ở và sinh hoạt cùng nhau. Ngày 04/3/2021, khi chị Thảo đi làm còn H nghỉ một mình ở phòng trọ. Lợi dụng chị Thảo đi làm H đã lấy chứng minh nhân dân của chị Thảo để rút số tiền 88.000.000đ trong tài khoản. Ngày 05/3/2021 chị Thảo đến Ngân Hng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc trình báo, sau đó được H chuyển trả lại 57.000.000đ, còn 31.000.000đ. Ngân Hng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc đã trả cho chị. Nay chị Thảo đã nhận lại toàn bộ số tiền nên, chị không có yêu cầu gì.

Bị cáo Võ Thị Hải H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ

̃ , các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Chiều ngày 04/3/2021, tại Ngân Hng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Vĩnh Phúc, địa chỉ: số 392A, đường Mê Linh, phường Khai Quang, tHnh phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc, Võ Thị Thu H đã dùng thủ đoạn gian dối xuất trình Giấy chứng minh nhân dân và giả mạo chữ ký của chị Đặng Thị Thảo để yêu cầu nhân viên của Ngân Hng là chị Phạm Thị Thúy Hg và chị Nguyễn Thị Kiều Ng rút số tiền lần lượt là 5.000.000đ và 83.000.000đ trong tài khoản số 1016287900 của chị Đặng Thị Thảo gửi tiền tại Ngân Hng. Tổng số tiền Võ Thị Thu H chiếm đoạt là 88.000.000đ.

Hnh vi của bị cáo Võ Thị Thu H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 7 năm.

Nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

…

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”

Hnh vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhận thấy :

Bị cáo phạm tội theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 7 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần rút tiền tại hai quầy giao dịch khác nhau tại Ngân Hng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Vĩnh Phúc. Vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều tHnh khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình. Tại thời điểm phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi (là người chưa tHnh niên), bị cáo được áp dụng các quy định đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi quy định tại các Điều 90, Điều 91 chương XII của Bộ luật Hình sự, khi cân nhắc quyết định hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn là cần thiết nhằm cải tạo người phạm tội trở tHnh ngoại dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, để tạo cơ hội cho người phạm tội sửa chữa lỗi lầm, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ở độ tuổi chưa tHnh niên do đó xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về Hnh vi, quyết định của người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người có liên quan và Hnh vi có liên quan trong vụ án gồm:

Đối với chị Phạm Thị Thuý Hg và Nguyễn Thị Kiều Ng là nhân viên ngân Hng Ngân Hng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Phúc. Do thiếu trách nhiệm trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, để H giả mạo chữ ký của chị Thảo chiếm đoạt tổng số tiền 88.000.000đ. Tuy nhiên, do số tiền H chiếm đoạt chưa đủ định lượng cấu tHnh tội phạm. Do vậy, cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khi phạm tội bị cáo chưa tHnh nên, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Thị Thu H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi Hnh án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Võ Thị Thu H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ