vanban.org

Bản án 160/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn M: 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thử th…

Trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì UBND xã Kỳ Sơn có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan Thi hành án huyện Thủy Nguyên để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ đến nơi bị cáo cư trú mới tiếp tục giám sát giáo dục, theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn M - Cố ý gây thươn tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn M: 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thử th…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2021/HS-ST
Ngày 29-9-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thiệm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết;

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Đỗ Văn M, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1957 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 5, xã KS, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Tứ và bà Bùi Thị Cứ (đều đã chết); có vợ là Đỗ Thị Von và có 03 con, con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 7 năm 2021; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1939 (Quốc tịch Hà Lan), hiện tạm trú tại: Thôn 5, xã KS, huyện TN, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/3/2021, Đỗ Văn M được anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1977 thuê lắp đặt đường ống nước cho gia đình mình ở thôn 5, xã KS, huyện TN, Hải Phòng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc M đang tiến hành lắp đặt đường ống nước bám dọc theo chân tường bao của gia đình bà Đỗ Thị M, sinh năm 1973 sống chung như vợ chồng với ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1939 (Quốc tịch Hà Lan), tại thôn 5, xã KS, huyện TN, Hải Phòng, dẫn đến việc xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại giữa M với ông Ch và bà M. Lúc này M đang đứng ở khu vườn của gia đình bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963 (giáp với vườn nhà bà M), trong lúc hai bên cãi chửi nhau, ông Ch đã nhặt viên 01 viên bê tông ném về phía M nhưng không trúng. Thấy ông Ch cúi người xuống tiếp tục định nhặt gạch, thì M nhặt 01 viên bê tông, kích thước khoảng (13x12x12)cm ở gần đó ném trúng vào lưng ông Ch gây thương tích. Sau đó, ông Ch được mọi người đưa đến Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp cấp cứu, điều trị. Ngày 19/3/2021, bà Đỗ Thị M đã giao nộp viên bê tông mà Đỗ Văn M đã sử dụng để ném ông Ch tại Công an xã KS, huyện TN.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 213/2021/TgT ngày 26/5/2021 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Nguyễn Văn Ch bị chấn thương vùng cột sống lưng, thắt lưng, gây xước da, bầm tím, gãy xương sườn 11, 12 bên trái, gãy mỏm ngang bên trái của đốt sống L1, L2, L3. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 19%. Thương tích của nạn nhân có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.

Quá trình điều tra, Đỗ Văn M khai nhận hành vi dùng viên gạch bê tông ném trúng vào ông Nguyễn Văn Ch như nội dung trên. Sau khi gây án, M đã đã chủ động gặp ông Ch xin lỗi và bồi thường 50.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả đã gây ra.

Vật chứng vụ án: 01 viên bê tông có dính gạch chỉ vỡ kích thước khoảng (13x12x12)cm chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố quản lý.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn Ch đã nhận được bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì khác, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Đỗ Văn M.

Tại bản Cáo trạng số 149/CT-VKS-P2 ngày 10 tháng 9 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Đỗ Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.

Bị hại là ông Nguyễn Văn Ch trình bày: Lý do bị hại làm đơn xin cho bị cáo là do Điều tra viên hòa giải, thuyết phục. Tại phiên tòa, bị hại không xin cho bị cáo, nhưng không muốn bị cáo phải đi tù, đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Hiện nay, thương tích của bị hại thỉnh thoảng lại tái phát, nên phải điều trị, yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Đỗ Văn M về tội “Cố ý gây thương tích”, đồng thời phân tích hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thỏa đáng cho bị hại, tại giai đoạn điều tra bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa bị hại đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật; hiện nay bị cáo 64 tuổi đang thờ cúng Liệt sỹ và bà mẹ Việt nam anh hùng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Về dân sự: Ông Ch đã nhận bồi thường, không yêu cầu gì nên không đề nghị xét. Tại phiên tòa, ông Ch không cung cấp được tài liệu chứng minh việc bồi thương thêm, nếu có yêu cầu, ông Ch có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác. Và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo không tranh luận, nói lời cuối cùng: xin được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại là ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1939, sinh ra và trưởng thành tại Tân Dương, Thủy Nguyên, sau đó sang Hà Lan sinh sống cùng với các con và nhập Quốc tịch Hà Lan, ông Ch thường xuyên về Việt Nam chung sống như vợ chồng với bà Đỗ Thị M, sinh năm 1973 ở thôn 5 xã KS, huyện TN. Ngày nhập cảnh gần nhất là ngày 19/11/2018, được phép cư trú tại Việt Nam đến ngày 06/11/2021. Do vậy, xác định bị hại là người nước ngoài, căn cứ Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh.

- Về tội danh:

Do mâu thuẫn trong việc đặt đường ống nước tiếp giáp ranh giới giữa gia đình anh Nguyễn Văn L với gia đình ông Nguyễn Văn Ch. Bị cáo M được gia đình anh Long thuê lắp đặt. M có cãi nhau với ông Ch, 2 bên dùng gạch ném nhau. Trong lúc ông Ch cúi xuống nhặt gạch, M cầm viên bê tông ném vào lưng ông Ch gây thương tích, theo Kết luận giám định, ông Ch bị tổn thương cơ thể 19%. Do vậy, bị cáo M phạm tội “Cố ý gây thương tích”, phạm Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể về quyền bảo vệ sức khỏe của công dân, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo dùng miếng bê tông đập vào lưng ông Ch gây tổn hại sức khỏe 19%, ông Ch sinh năm 1939 nên bị cáo phạm 02 tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là: “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Phạm tội đối với người già”. Do vậy, bị cáo phạm điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng, có các tình tiết giảm nhẹ là: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo M đã trực tiếp gặp ông Ch xin lỗi và bồi thường 50 triệu đồng, ông Ch không yêu cầu gì và trong giai đoạn điều tra ông Ch có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với M. Bị cáo Đỗ Văn M sinh năm 1957 đến nay 64 tuổi; gia đình bị cáo thuộc diện có công với đất nước có anh trai Đỗ Văn B là Liệt sỹ chống Mỹ, mẹ bị cáo là Bùi Thị C được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hiện bị cáo đang thờ cúng mẹ và anh trai. Xét không cần thiết phải cách ly bị cáo, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về bồi thường dân sự: Ông Ch đã nhận bồi thường, không yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xét. Ông Ch yêu cầu bị cáo M bồi thường tiền điều trị thương tích khi tái phát. Vấn đề bồi thường thương tích phát sinh sau khi xét xử, Hội đồng xét xử đã giải thích, hướng dẫn cho ông Ch sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác, ông Ch đồng ý.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ miếng vữa bê tông, xét không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn M: 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Văn M cho Ủy ban nhân dân xã KS, huyện TN, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì UBND xã Kỳ Sơn có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan Thi hành án huyện Thủy Nguyên để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ đến nơi bị cáo cư trú mới tiếp tục giám sát giáo dục, theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ công dân từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể chuyển án treo thành án giam, buộc bị cáo phải chấp hành.

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 viên bê tông vỡ bám dính gạch chỉ kích thước 13cm x 12cm x 12cm (Đặc điểm chi tiết vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/9/201 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí đối với đối với người cao tuổi: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ