vanban.org

Bản án 160/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 24/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản và chi phí khắc phục do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra cho VNPT Cao Bằng, cụ thể từng bị cáo phải bồi thường như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Mạc Anh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2021/HS-ST
Ngày 24-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mã Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đàm Văn Sự.

Bà Trương Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Hoa, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Đinh Như Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1138/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Mạc Anh T, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1996 tại huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm ĐS, xã MT, huyện NB, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 10/12 phổ thông; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Sỹ V, sinh năm 1971 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1970; vợ, con: chưa có; tiền sự: không có; tiền án: có 02 tiền án, tại Bản án số: 26/2019/HS-ST ngày 01-3-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt Bùi Mạc Anh T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số: 04/2019/HS-ST ngày 11-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tuấn 15 (mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 31-3-2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

2. Họ và tên: Trương Thế A, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1994 tại xã NL, huyện HA, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 5, phường NX, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12 phổ thông; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Xuân Đ, sinh năm 1970 và bà Nông Thị D, sinh năm 1970; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: tại Bản án số: 57/2017/HS-ST ngày 30-8-2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt Trương Thế A 15 (mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 14-5-2018 chấp hành xong hình phạt của Bản án trên, đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 13-4-2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

- Bị hại: Viễn thông (VNPT) Cao Bằng; người đại diện: Ông Nông Văn H, chức vụ: Giám đốc ủy quyền cho ông Nguyễn Văn K, chức vụ: Phó trưởng phòng Nhân sự - Tổng Hợp, VNPT Cao Bằng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1970, nơi cư trú: Xóm ĐS, xã MT, huyện NB, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

2. Giang Văn T, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm CP, xã TC, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31 tháng 3 năm 2021, Bùi Mạc Anh T một mình đi xe máy biển kiểm soát 11B1-331.57 từ huyện Nguyên Bình đến huyện HQ, tỉnh Cao Bằng để trộm cắp tài sản. Khi đi Tuấn mang theo 01 kìm cộng lực và 01 kìm nhỏ. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn đi vào quán tạp hóa của anh Giang Văn T, sinh năm 1992, trú tại Cọt Phố, xã Tổng Cọt, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng thấy không có người trông coi nên đã trộm cắp lấy số tiền 223.000 đồng để trong hộp nhựa đặt tại quầy bán hàng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Tuấn đến Trạm thu phát sóng thông tin di động (Trạm BTS) Vinaphone thuộc xã NT, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng. Sau khi quan sát xung quanh không có người, Tuấn dùng kìm cộng lực để phá khóa cửa trạm, mở vào bên trong rồi dùng kìm nhỏ cắt trộm được 07 (bảy) đoạn dây cáp điện gồm nhiều loại khác nhau. Sau khi trộm xong, Tuấn tiếp tục đến trạm BTS thuộc xóm LK, xã Sỹ H, huyện HQ dùng kìm cộng lực cắt khóa cửa trạm mở vào bên trong, dùng kìm nhỏ cắt trộm được 05 đoạn dây cáp điện. Sau khi cắt xong thì Tuấn bị lực lượng Công an xã Hồng S, huyện HQ phát hiện bắt quả tang, đưa người cùng vật chứng về trụ sở Công an để lập biên bản. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại 02 trạm trên là 2.814.930 đồng.

Quá trình điều tra mở rộng, Tuấn khai nhận: Ngoài hành vi phạm tội bị bắt quả tang ngày 31-3-2021, T còn được cùng Trương Thế A, sinh năm 1994, trú tại tổ 5, phường NX, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng nhiều lần trộm cắp tài sản tại các trạm BTS, cụ thể từng lần như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 02-2021, An rủ Tuấn cùng đi trộm dây cáp đồng ở các trạm BTS Vinaphone trên địa bàn huyện HQ mang về bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân và mua ma túy để sử dụng, An và Tuấn dùng xe máy của Tuấn đi từ thành phố Cao Bằng đến huyện HQ. Khi đi, A mang theo 01 mỏ lết và 01 kìm nhỏ để phá cửa trạm và cắt dây tiếp địa. Khi đến khu vực xóm Sông Giang, xã Hồng Sỹ, huyện HQ quan sát thấy trạm BTS Vinaphone trên núi Pác Trả không có người, Avà T dùng kìm cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa loại M95, màu vàng, sọc xanh, mỗi đoạn dây dài khoảng 15 mét, An trực tiếp cắt, còn Tuấn đứng quan sát. Sau khi cắt xong, A và T cuốn mỗi người 01 đoạn dây vào quanh người mang về đến đoạn gần khu vực xóm Nà G, xã Ngọc Đ, huyện HQ thì dừng lại đốt vỏ nhựa bên ngoài để lấy lõi đồng bên trong rồi mang bán cho một người phụ nữ không quen biết ở thị trấn Nước H, huyện HA, tỉnh Cao Bằng với giá 130.000 đồng/01kg được 3.000.000 đồng số tiền có được cả hai người mang đi mua ma túy để sử dụng hết. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 9.120.000 đồng.

Lần thứ hai: Sau lần thứ nhất khoảng ba ngày, Tuấn một mình đi xe máy mang theo 01 kìm nhỏ đến trạm BTS trên để cắt trộm dây tiếp địa, cách thức giống với lần trước khi đi cùng A. Tuấn cắt trộm được 01 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 08 mét mang về bán cho một người phụ nữ không quen biết được 900.000 đồng, số tiền này T mua ma túy sử dụng hết. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm trên là 1.984.000 đồng.

Lần thứ ba: Sau lần thứ hai khoảng 04 ngày, T cùng A dùng xe máy của Tuấn đến địa điểm trên để cắt trộm dây tiếp địa, lần này Tuấn và An cắt ở khu vực đồi thông thuộc núi Pác Trả, xóm Sông Giang, xã Hồng Sỹ, huyện HQ cắt được 02 đoạn dây loại CU/PVC M95 màu vàng, sọc xanh hãng Cadisun mỗi đoạn dài hơn 20 mét mang về bán cho một người đàn ông ở khu vực Suối Củn được 6.140.000 đồng, T chia cho A 3.000.000, Tuấn lấy 3.140.000 đồng vì cả hai đi chung xe của Tuấn, số tiền có được T và A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại là 19.680.000 đồng.

Lần thứ tư: Cách lần thứ ba khoảng một tuần, T cùng A đi xe máy của Tuấn đến trạm BTS Vinaphone thuộc xóm Thượng S, xã TT, huyện HQ cắt dây phía ngoài trạm BTS được 02 đoạn dây tiếp địa loại CU/PVC M95 hãng Cadisun, mỗi đoạn dài khoảng 10 mét, A và T mang về đốt vỏ ngoài lấy lõi đồng rồi bán cho một người không quen biết ở Hòa An được 2.000.000 đồng, số tiền này A và T chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng rồi mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 5.002.000 đồng.

Lần thứ năm: Khoảng đầu tháng 3-2021, T và A đi xe máy của Tuấn đến trạm BTS Vinaphone thuộc xóm Rằng Rụng, xã Lũng Nặm, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng trộm dây tiếp địa. T và A mở cửa vào bên trong nhà trạm cắt được 01 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 3,1 mét; 01 đoạn dây tiếp địa loại CU/PVC M35 hãng Cadisun dài 3,5 mét mang về bán cho một người phụ nữ tên Thúy ở khu vực Km 5 thuộc phường ĐT, thành phố Cao Bằng được 500.000 đồng, số tiền này cả hai người mua ma túy sử dụng chung, kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 288.976 đồng.

Quá trình điều tra Trương Thế A khai nhận: Ngoài các lần trộm cắp dây tiếp địa ở các trạm BTS Vinaphone trên địa bàn huyện HQ cùng với Bùi Mạc Anh T, bản thân A còn tự mình trộm cắp tài sản tại các trạm BTS trên địa bàn huyện HQ và huyện HA nhiều lần khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 2-2021, An một mình đi xe buýt đi từ thành phố Cao Bằng đến chợ Nà G, huyện HQ rồi đi nhờ xe người dân đến địa điểm gần trạm BTS thuộc khu vực xóm SG, xã Hồng S, huyện HQ để cắt trộm dây tiếp địa. Đến nơi, An dùng kìm cắt trộm tại vị trí hôm trước cắt nối tiếp 01 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 15 mét, sau đó đốt vỏ lấy lõi đồng bên trong mang về bán cho một người phụ nữ tên Thúy ở Km 5, phường ĐT được 1.000.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 3.721.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 3-2021, An một mình đi xe buýt lên chợ Nà G, huyện HQ để trộm dây tiếp địa. Khi đến trạm BTS Nà Giàng 1 thuộc xóm Bản B, xã Ngọc Đ, huyện HQ quan sát thấy không có người, A lấy 01 ống tuýp sắt ở dưới gầm trạm BTS phá khóa cửa vào bên trong cắt 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun, 01 đoạn dây dài 1,6 mét; 01 đoạn dài 01 mét mang về bán cho người phụ nữ tên Thúy được 700.000 đồng, số tiền này An mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 664.192 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng đầu tháng 3-2021, An một mình đi xe buýt lên trạm BTS Nà Giàng 2, xã Ngọc Đ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng để trộm dây tiếp địa. Đến nơi, A thấy cửa trạm đã mở ra sẵn nên vào bên trong cắt trộm được 01 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M35 hãng Cadisun dài 2,9 mét, A mang về bán cho bà T được 500.000 đồng, số tiền bán được An mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 363.399 đồng.

Lần thứ tư: Khoảng đầu tháng 3-2021, An một mình đi xe buýt lên đến chợ Nà G, sau đó đi nhờ xe người dân lên trạm BTS Thượng Thôn, nơi cùng Tuấn trộm dây tiếp địa trước đó, A dùng kìm cắt được 01 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 08 mét mang về bán cho bà Thúy được 400.000 đồng, số tiền này A dùng mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 1.984.672 đồng.

Tại khu vực huyện HA, tỉnh Cao Bằng, Trương Thế A thực hiện 11 vụ trộm cắp tài sản tại các trạm BTS, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 11-2020, A một mình đi xe buýt từ thành phố Cao Bằng đến thị trấn Nước Hai, huyện HA để uống Methadone thì gặp một người đàn ông tên Hùng là người nghiện chất ma túy lâu năm, Hùng tự giới thiệu nhà ở sau Công an huyện HA. Khi gặp nhau, Hùng rủ An đi trộm dây tiếp địa của trạm BTS Vinaphone để lấy tiền mua ma túy, hai người cùng nhau đi xe máy của Hùng đến trạm BTS tại xóm LS, xã HV, huyện HA, tỉnh Cao Bằng dùng kìm cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun, 01 đoạn dài 2,45 mét, 01 đoạn dài 1,4 mét. Sau đó, mang về khu vực cầu Sông M đốt vỏ nhựa lấy lõi đồng đem bán cho bà T được 1.300.000 đồng, số tiền này Avà H chia đôi mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 1.297.276 đồng.

Lần thứ hai: Cách lần đầu khoảng một tuần, An một mình đi xe buýt đến thị trấn NH, huyện HA, sau đó xuống xe đi bộ vào trạm BTS tại xóm HL, xã HT, huyện HA, tỉnh Cao Bằng, cách trạm BTS xã HV mà A đã trộm cắp trước đó khoảng 03 km cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun có tổng chiều dài là 04 mét mang về bán cho bà Thúy được 800.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 284.248 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng cuối tháng 11-2020, Hùng đi xe máy xuống thành phố Cao Bằng tìm mua ma túy thì gặp A, Hùng rủ A đi trộm dây tiếp địa, A và H đi xe máy của Hùng đến trạm BTS thuộc xóm NM, thị trấn NH, huyện HA, tỉnh Cao Bằng vào cắt trộm được một đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 2,2 mét; 01 đoạn dây tiếp địa loại CU/PVC M25 hãng Cadisun dài 2,2 mét mang về bán cho bà T được 340.000 đồng, số tiền này A và H mua ma túy cùng nhau sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 127.918 đồng.

Lần thứ tư: Khoảng tháng 12-2020, An một mình đi xe buýt đến khu vực xóm NT, xã ĐL, huyện HA thì xuống xe đi bộ dọc theo sườn đồi khoảng 01 km thì có trạm BTS Vinaphone, quan sát thấy cửa trạm đã bị phá khóa từ trước, A mở vào bên trong trạm dùng kìm cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun, 01 đoạn dài 1,85 mét; 01 đoạn dài 1,6 mét mang về bán cho bà Thúy được 600.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 231.767 đồng.

Lần thứ năm: Khoảng cuối tháng 12-2020, An một mình đi xe buýt lên khu vực chợ NT, huyện HA thì xuống xe và quan sát thấy đằng sau chợ có 01 trạm BTS thuộc xóm TC, xã NT, huyện HA, tỉnh Cao Bằng, A trèo lên cắt trộm một đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 4,25 mét mang về bán cho bà T được 800.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 1.217.314 đồng.

Lần thứ sáu: Khoảng tháng 01-2021, An một mình đi xe buýt đến trạm BTS thuộc xóm NL, xã NH, huyện HA, tỉnh Cao Bằng trèo lên cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun, 01 đoạn dài 2,1 mét; 01 đoạn dài 0,5 mét mang về bán cho bà Tđược 800.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 91.517 đồng.

Lần thứ bảy: Khoảng giữa tháng 01-2021, A và H gặp nhau tại khu vực bến xe cũ thành phố Cao Bằng khi đi tìm mua ma túy, hai người rủ nhau đến trạm BTS thuộc xã Hồng Việt, huyện HA đã trộm lần trước để trộm dây tiếp địa, hai người cắt trộm được một đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M25 hãng Cadisun dài 5,2 mét mang về bán cho bà T được 1.000.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 1.000.648 đồng.

Lần thứ tám: Khoảng tháng 2-2021, An một mình đi bộ từ nhà ở phường NX, thành phố Cao Bằng lên khu vực đằng sau Công ty khoáng sản TG thấy trạm BTS Vinaphone thuộc xóm Bản Gủn, xã NL, huyện HA, tỉnh Cao Bằng, quan sát thấy trạm đã bị đào trộm và phá khóa từ trước, A vào bên trong dùng kìm cắt trộm được 03 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun, 01 đoạn dài 1,7 mét; 01 đoạn dài 1,2 mét; 01 đoạn dài 2,4 mét mang về bán cho bà Thúy được 450.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 1.123.748 đồng.

Lần thứ chín: Khoảng tháng 3-2021, A đến thị trấn Nước Hai, huyện HA uống Methadone, sau đó đi bộ đến trạm BTS xã HT, huyện HA đã trộm trước đó cắt trộm được 01 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M95 hãng Cadisun dài 02 mét; 01 đoạn dây tiếp địa loại CU/PVC M25 hãng Cadisun dài 4,3 mét mang về bán cho bà T được 520.000 đồng, số tiền này A mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 356.805 đồng.

Lần thứ mười: Khoảng tháng 3-2021, An một mình đi xe buýt đến xã NH, huyện HA, rồi vào trạm BTS tại đây cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M25 hãng Cadisun, 01 đoạn dài 2,4 mét; 01 đoạn dài 6,1 mét mang về bán cho bà T được 330.000 đồng, số tiền này An mua ma túy để sử dụng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 105.298 đồng.

Lần thứ mười một: Khoảng tháng 3-2021, An đến nhà bạn ở xóm NT, xã NL, huyện HA chơi thì thấy có trạm BTS Vinaphone trên đỉnh đồi, quan sát thấy cửa trạm đã bị mở sẵn, An vào bên trong cắt trộm được 02 đoạn dây tiếp địa lõi đồng loại CU/PVC M35 hãng Cadisun, mỗi đoạn dây dài 1,9 mét mang về bán cho một nười phụ nữ không quen biết ở khu vực Km 7 được 300.000 đồng. Kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại tại trạm BTS trên là 137.358 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã tiến hành cho các bị cáo xác định hiện trường, vẽ sơ đồ, lập bản ảnh tại những nơi đã từng thực hiện hành vi trộm dây tiếp địa, kết quả phù hợp với lời khai của Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A.

Ngày 01-4-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HQ, tỉnh Cao Bằng ra Yêu cầu định giá tài sản số 52 đối với số dây tiếp địa mà Bùi Mạc Anh T trộm ngày 31-3-2021. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 47/BKL-HĐĐG ngày 05-4-2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện HQ kết luận: Tổng giá trị tài sản trưng cầu là 2.814.930 đồng.

Ngày 15-4-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HQ ra Yêu cầu định giá tài sản số 55 đối với số dây điện Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A cắt trộm 02 lần tại trạm BTS Vinaphone Sông Giang, xã Hồng Sỹ, huyện HQ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 57/BKL-HĐĐG ngày 19-4-2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện HQ kết luận: Tổng giá trị tài sản 02 lần trộm là 28.800.000 đồng.

Ngày 21-6-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng ra Yêu cầu định giá tài sản số: 1103/PC02-Đ4 đối với tất cả những lần trộm cắp tài sản còn lại của Trương Thế A và Bùi Mạc Anh T tại huyện HQ. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 1908/KL-HĐ ĐGTS ngày 30-8-2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Cao Bằng kết luận: Tổng giá trị tài sản của 07 lần trộm là 14.009.171 đồng.

Ngày 21-6-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng ban hành Yêu cầu định giá tài sản số: 1104/PC02-Đ4 đối với tất cả các lần trộm cắp tài sản còn lại của Trương Thế A tại huyện HA. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 1909/KL-HĐ ĐGTS ngày 30-8-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cao Bằng kết luận tổng giá trị tài sản của 11 lần trộm là 5.973.897 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà bị can Bùi Mạc Anh T đã trộm cắp là 39.112.906 đồng (trộm cắp tài sản của VNPT là 38.889.906 đồng, trộm cắp tài sản của Giang Văn T 223.000 đồng); tổng giá trị tài sản mà Trương Thế A đã trộm cắp là 46.762.396 đồng.

Tại phiên toà, các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Bị hại VNPT Cao Bằng yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại toàn bộ giá trị tài sản đã trộm cắp và chi phí khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi Thị H đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy Honda RSX biển kiểm soát 11B1-331.57.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Giang Văn T không yêu cầu Bùi Mạc Anh T phải bồi thường số tiền đã trộm cắp là 223.000 đồng.

Ngày 06-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ra Cáo trạng số: 137/CT-VKSCB-P2 truy tố Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo khẳng định quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A về tội danh, thay đổi quyết định truy tố các bị cáo từ điểm b khoản 2 Điều 173 về khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự do hành vi của các bị cáo không có tính chất chuyên nghiệp. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Thế A, Bùi Mạc Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo, xử phạt Trương Thế A và Bùi Mạc Anh T mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm các đoạn dây tiếp địa lõi đồng; 01 con dao quắm.

+ Trả lại cho Bùi Mạc Anh T 01 điện thoại Sam sung màu đen; 01 áo phao màu xám; 468.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

+ Trả lại cho bà Bùi Thị H 01 xe máy Honda RSX, biển kiểm soát 11B1-331.57.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584; 585; 586; 589 của Bộ luật Dân sự, các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Tập đoàn Viễn thông VNPT tỉnh Cao Bằng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A không bào chữa, không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A, bị hại VNPT Cao Bằng và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 19 giờ ngày 31-3-2021 của Công an huyện HQ, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo Bùi Mạc Anh T, các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 11-2020 đến cuối tháng 3-2021, Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A đã nhiều lần trộm cắp tài sản là dây cáp điện và dây tiếp địa có lõi đồng tại các trạm BTS Vinaphone của VNPT Cao Bằng trên địa bàn huyện HQ và huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Trong đó, có 04 lần Tuấn cùng An trộm cắp dây cáp điện và dây tiếp địa lõi đồng tại các trạm BTS trên địa bàn huyện HQ với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 34.090.976 đồng; Tuấn 02 lần một mình trộm cắp dâp cáp điện, dây tiếp địa lõi đồng tại các trạm BTS thuộc địa bàn Hà Quảng với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 4.798.930 đồng, trộm cắp của Giang Văn T, trú tại Xóm CP, xã TC, huyện HQ số tiền 223.000 đồng, ngày 31-3-2021 sau khi Tuấn trộm cắp tài sản tại các trạm BTS thuộc xã NT và xã SH, huyện HQ xong thì bị bắt quả tang. Ngoài các lần cùng Tuấn trộm cắp, Trương Thế A còn 04 lần một mình trộm cắp dây cáp điện, dây tiếp địa lõi đồng tại các trạm BTS trên địa bàn huyện HQ với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.733.523 đồng; 11 lần trộm cắp dây điện, dây tiếp địa lõi đồng tại các trạm BTS trên địa bàn huyện Hòa An với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.937.897 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản đối với các hành vi trộm cắp do Bùi Mạc Anh T thực hiện là 39.112.906 đồng; đối với các hành vi do Trương Thế A thực hiện là 46.762.396 đồng.

Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là VNPT Cao Bằng, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại về tài sản của chủ sở hữu mà còn làm gián đoạn thông tin liên lạc phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại về tài sản lớn hơn cho chủ sở hữu khi các dây tiếp địa lõi đồng của các trạm thu phát sóng mạng viễn thông bị cắt trộm. Giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi của Bùi Mạc Anh T gây ra đối với tài sản của Giang Văn T và 02 lần Tuấn tự mình trộm cắp tại các trạm BTS thuộc xã NT và xã Hồng S, huyện HQ là 5.021.930 đồng, 04 lần cùng Trương Thế A trộm tại các trạm BTS trên địa bàn huyện HQ là 34.090.976 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại mà Bùi Mạc Anh T phải chịu trách nhiệm hình sự là 39.112.906 đồng. Đối với Trương Thế A, giá trị tài sản bị thiệt hại trong 04 lần An một mình trộm cắp dây cáp điện, dây tiếp địa tại các trạm BTS thuộc địa bàn huyện HQ là 6.733.523 đồng, 11 lần An một mình và cùng Hùng trộm cắp tại các trạm BTS thuộc địa bàn huyện Hòa An là 5.937.897 đồng, 04 lần cùng Tuấn trộm cắp tại các trạm BTS trên địa bàn huyện HQ là 34.090.976 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại mà Trương Thế A phải chịu trách nhiệm hình sự là 46.762.396 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng. Hành vi đó của các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù, các bị cáo đều trộm cắp rất nhiều lần, nhưng số lần trộm cắp có đủ yếu tố cấu thành tội phạm chưa đến 05 lần, các bị cáo trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, không phải lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính nên đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đã thay đổi lại việc truy tố từ điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự sang đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A đều là người có nhân thân xấu, nghiện chất ma túy nhiều năm, Tuấn đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Cả hai bị cáo đều phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Tuấn còn phải chịu thêm một tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục. Mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đều là người nghiện chất ma túy, không có tài sản, các bị cáo lấy việc trộm cắp tài sản để có tiền sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A đã gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu là VNPT Cao Bằng. Do vậy, cần buộc các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho chủ sở hữu. Đối với những thiệt hại do các bị cáo một mình thực hiện thì các bị cáo phải tự bồi thường, đối với các thiệt hại do cả hai bị cáo cùng thực hiện thì cả hai bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường, cụ thể như sau:

a. Thiệt hại về tài sản:

- Đối với bị cáo Bùi Mạc Anh T:

+ Bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại trong 02 lần Tuấn một mình trộm cắp tại các trạm BTS thuộc địa bàn xã NT và xã Hồng Sỹ, huyện HQ là 4.798.930 đồng.

+ Bồi thường giá trị tài sản trong 04 lần Tuấn cùng Trương Thế A trộm cắp tại các trạm BTS thuộc địa bàn huyện HQ là 34.090.976 đồng. Trong 04 lần này, có 02 lần Tuấn và An lấy tiền đi mua ma túy cùng sử dụng, 01 lần chia đều nhau số tiền có được, 01 lần Tuấn lấy số tiền nhiều hơn (Tuấn 3.140.000 đồng, An 3.000.000 đồng) nên Tuấn phải có trách nhiệm bồi thường phần nhiều hơn An với số tiền phải chịu là 17.590.976 đồng, An phải chịu 16.500.000 đồng.

Tổng số tiền Tuấn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại giá trị tài sản bị trộm cắp cho VNPT Cao Bằng là 22.389.906 đồng.

- Đối với Trương Thế A:

+ Bồi thường giá trị tài sản trong 04 lần An tự trộm cắp tại các trạm BTS trên địa bàn huyện HQ là: 6.733.523 đồng.

+ Bồi thường giá trị tài sản trong 11 lần trộm cắp tại các trạm BTS trên địa bàn huyện Hòa An là 5.937.897 đồng.

+ Bồi thường giá trị tài sản trong 04 lần cùng Bùi Mạc Anh T trộm cắp trên địa bàn huyện HQ là 16.500.000 đồng.

Tổng số tiền An phải bồi thường thiệt hại giá trị tài sản bị trộm cắp là 29.171.420 đồng.

b. Đối với chi phí khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Để khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, VNPT Cao Bằng đã tiến hành thay thế dây, sửa chữa các trạm BTS mà các bị cáo đã lấy trộm tài sản, tổng chi phí khắc phục thiệt hại là 25.450.000 đồng. Trong tổng số tiền này, Bùi Mạc Anh T phải tự mình chịu chi phí khắc phục hậu quả tại các trạm trong những lần Tuấn tự trộm cắp là 1.200.000 đồng, liên đới cùng với Trương Thế A chịu chi phí khắc phục hậu quả trong 04 lần cùng An trộm cắp tại các trạm BTS là 2.500.000 đồng. Tổng số tiền Tuấn phải chịu chi phí khắc phục hậu quả là 3.700.000 đồng. Trương Thế A phải liên đới chịu chi phí khắc phục hậu quả trong 04 lần cùng Tuấn trộm cắp là 2.500.000 đồng, tự mình chịu chi phí khắc phục hậu quả trong 15 lần tự mình hoặc cùng Hùng trộm cắp là 19.250.000 đồng, tổng chi phí khắc phục hậu quả mà An phải chịu là 21.750.000 đồng.

Tổng số tiền Bùi Mạc Anh T phải bồi thường là: 22.389.906 đồng + 3.700.000 đồng = 26.089.906 đồng.

Tổng số tiền Trương Thế A phải bồi thường là: 29.171.420 đồng + 21.750.000 đồng = 50.921.420 đồng.

Đối với số tiền 223.000 đồng mà Bùi Mạc Anh T trộm cắp của Giang Văn T, tại phiên tòa anh Thực không yêu cầu Tuấn phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là các đoạn dây diện nhiều loại đã bị cắt ngắn không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng là kìm cộng lực, kìm sắt nhỏ, dao quắm, áo phao là công cụ thực hiện tội phạm hoặc tài sản có giá trị còn lại không đáng kể thì tịch thu tiêu hủy.

Điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội thì trả lại cho bị cáo Bùi Mạc Anh T

01 (một) chiếc xe máy HONDA RSX thuộc quyền sở hữu của bà Bùi Thị H, khi Tuấn dùng để thực hiện tội phạm bà Huệ không biết, không có lỗi trong việc tài sản của mình bị sử dụng vào việc thực hiện tội phạm nên trả lại cho bà Huệ.

Trả lại cho Bùi Mạc Anh T số tiền 468.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi của người đàn ông tên Hùng, Trương Thế A khai đã cùng Hùng trộm cắp tài sản tại các trạm BTS trên địa bàn huyện Hòa An 03 lần, nhưng không biết họ, địa chỉ của Hùng, ngoài lời khai của An, không có tài liệu, chứng cứ khác nên không có căn cứ mở rộng điều tra để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Mạc Anh T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam là ngày 31-3-2021.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trương Thế A 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam là ngày 13-4-2021.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584; 585; 586; 587 và 589 của Bộ luật Dân sự

Buộc các bị cáo Bùi Mạc Anh T và Trương Thế A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản và chi phí khắc phục do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra cho VNPT Cao Bằng, cụ thể từng bị cáo phải bồi thường như sau:

+ Bùi Mạc Anh T phải bồi thường 26.089.906 đồng.

+ Trương Thế A phải bồi thường 50.921.420 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

+ 01 (một) sợi dây đồng vỏ màu xanh dài 03,08m.

+ 01 (một) sợi dây đồng vỏ màu đỏ dài 02,85m.

+ 01 (một) sợi dây đồng vỏ màu xanh vàng dài 01,63m.

+ 01 (một) sợi dây đồng vỏ màu đen dài 0,9m.

+ 01 (một) sợi dây đồng vỏ màu xanh dài 2,93m.

+ 01 (một) sợi dây đồng vỏ màu xanh vàng dài 2,56m.

+ 01 (một) đoạn dây tiếp địa màu vàng sọc xanh có lõi đồng dài khoảng 20cm.

+ 01 (một) kìm cộng lực đã qua sử dụng.

+ 01 (một) kìm sắt nhỏ đã qua sử dụng.

+ 01 (một) áo phao màu xám đã qua sử dụng.

+ 01 (một) dao quắm bằng kim loại đã cũ han gỉ.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Mạc Anh T 01 (một) điện thoại di động Sam sung màu đen, màn hình cảm ứng, máy đã qua sử dụng. Máy bật không lên nguồn không kiểm tra chi tiết bên trong; 468.000 đồng nhưng tạm giữ số tiền để bảo đảm thi hành án.

- Trả lại cho bà Bùi Thị H, sinh năm 1970, cư trú tại Xóm ĐS, xã MT, huyện NB, tỉnh Cao Bằng 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA RSX màu đỏ đen, xe đeo biển kiểm soát 11B1-331.57. Tình trạng xe đã qua sử dụng, nhiều chỗ trên thân xe đã xước, nứt, vỡ.

Số khung: RLHJA3827JY000783.

Số máy: JA38E0399150.

Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 18-10-2021.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số 17 ngày 19 tháng 10 năm 2021.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Bùi Mạc Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.304.400 đồng. Tổng cộng là 1.504.400 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Trương Thế A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.546.000 đồng. Tổng cộng là 2.746.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Bùi Mạc Anh T, Trương Thế A, bị hại VNPT Cao Bằng có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi Thị H, Giang Văn T có quyền kháng cáo phần Bản án sơ thẩm trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ