vanban.org

Bản án 160/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 30/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN ANH T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo NGUYỄN ANH T 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2020.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Tú - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo NGUYỄN ANH T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tòa án nhân dân
Quận Thanh xuân
Thành phố Hà Nội
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2020/ HS-ST

Ngày: 30/07/2020

Nhân danh

Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Vân

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Tuyết

Ông Đỗ Quang Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Lan - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 07 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2020/TLST-HS ngày 08.07.2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 07 năm 2020 đối với bị cáo:

1. NGUYỄN ANH T - Sinh năm 1983 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 7, ngõ 162 đường Đ, phường Đ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Địa chỉ cư trú: Số 4, ngách 387/91 đường P, phường Đ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn):12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn V; Con bà: Nguyễn Thị B; Vợ: Đoàn Thị N; Có 02 con: SN 2009 và 2011

Tiền án, tiền sự : Không

Nhân thân: Ngày 24/4/2003 TAND quận Đống Đa xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 16 tháng về tội trộm cắp tài sản (án đã xóa).

Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/4/2020; Tạm giam ngày 08/5/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: + Anh Nguyễn Trọng P, sinh năm 1997; Trú tại: Số 4, ngách 387/91 đường P, phường Đ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1994; Trú tại: Số 4, ngách 387/91 đường P, phường Đ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Quang Q, sinh năm 1985; Trú tại: 144 đường T, phường Đ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

Chị Doãn Thị T, sinh năm 1982; Trú tại: Số 7 đường T, phường Đ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

Anh Lê Khắc C, sinh năm 1984; Trú tại: Số 3 hẻm 28/106/25 đường L, phường V, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 4/2020, NGUYỄN ANH T thuê nhà trọ ở cùng với anh Nguyễn Trọng H và anh Nguyễn Trọng P tại số 4 ngách 387/91 Đường P, phường Đ, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Khoảng 17h15’ ngày 28/4/2020, anh H và anh P đi làm, còn một mình T ở lại phòng trọ. Lúc này, T phát hiện thấy 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen của anh Nguyễn Trọng P để ở dưới gối đầu giường. Do cần tiền chơi điện tử nên T trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên. Sau khi trộm cắp được điện thoại T mang đến cửa hàng cầm đồ số 7 đường T, Khương Đình, Thanh Xuân cầm cố cho chị Doãn Thị T được 3.000.000đồng, T nhờ chị T chuyển số tiền này vào tài khoản 19033622598996 của Ngân hàng Techcombank mang tên “NguyenNgocN” để chơi điện tử, sau đó T đến quán Internet số 62 ngõ 1 đường T, Khương Đình, Thanh Xuân chơi game hết số tiền trên. Đến khoảng 19h cùng ngày T về phòng trọ của mình và nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29Y1-14939 của anh Nguyễn Trọng H để ở phòng trọ, T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên. Do không có chìa khóa xe máy nên T đã đến cửa hàng sửa chữa khóa số 329 Khương Trung, Khương Đình nhờ anh Lê Khắc C đến phòng trọ để đánh chìa khóa xe máy với số tiền 150.000đồng, do T chỉ còn 50.000 đồng trong người nên T trả trước cho anh C số tiền này và đưa cho anh C chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel IT2170 của T và hẹn sẽ trả nốt tiền và lấy lại điện thoại sau. Sau khi đánh được chìa khóa, T tìm được chứng nhận đăng ký xe (bản gốc) ở trong ba lô của anh H để ở phòng trọ, T mang xe cùng giấy đăng ký xe đến cửa hàng cầm đồ số 144 Bùi Xương Trạch, Khương Đình cầm cố cho anh Lê Quang Q được 7.000.000đồng, T lại đến nhờ chị T chuyển số tiền này vào tài khoản mang tên “NguyenNgocN” rồi tiếp tục đến cửa hàng Internet chơi điện tử. Sau khi chơi hết tiền, T quay lại cửa hàng cầm đồ của anh Q lấy thêm 8.000.000đồng từ việc cầm cố chiếc xe máy (anh Q có viết giấy cầm cố với tổng số tiền là 15.000.000đồng). Sau khi nhận tiền T giữ lại 1.000.000đồng để trả tiền ăn uống và trả tiền nợ cửa hàng Internet, còn 7.000.000đồng T nhờ chị T chuyển vào tài khoản mang tên “NguyenNgocN” tại Ngân hàng Techcombank và tiếp tục đến cửa hàng Internet chơi điện tử chơi hết số tiền này. Đến khoảng 23h15 cùng ngày anh H và anh P đi làm về phát hiện bị mất tài sản nên đã hỏi T thì T nhận đã trộm cắp số tài sản trên. Anh H và anh P đã đến Công an phường Khương Đình trình báo sự việc.

Tại cơ quan điều tra NGUYỄN ANH T đã khai nhận hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản của mình như trên.

* Công an thu giữ của anh Lê Quang Q: 01 xe máy Honda Dream màu nâu, BKS: 29Y1-14939, SM: HA08E-1655345, SK: RLHHA0801AY355301 xe đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe máy Honda Dream màu nâu, BKS: 29Y1-14939, tên chủ xe Nguyễn Ngọc B – SN: 1972, địa chỉ: Mỹ Đức; 01 chìa khóa xe máy, tay cầm bằng nhựa màu đen có dòng chữ “Key World”, phần thân chìa bằng kim loại màu sáng vàng đỏ có hình dáng 06 cạnh; 01 hợp đồng cầm đồ của dịch vụ cầm đồ Khương Đình, Thanh Xuân.

- Thu giữ của chị Doãn Thị T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei: 353327070134101, lắp sim số 0368391144; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei: 355733072502708, lắp sim số 0367916534; 01 đĩa DVD.

- Thu giữ của anh Lê Khắc C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel IT2170, màu vỏ: xanh đen, số Imei 1: 359623091355186, số Imei 2: 359623091355194, bên trong lắp sim số thuê bao: 0962832138 và 0586996796.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 172/KLĐG ngày 05/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Xuân kết luận:

- 01 xe máy Honda Dream màu nâu, BKS: 29Y1-14939, SM: 1655345, SK: 355301 xe đã qua sử dụng có giá 15.000.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei: 353327070134101 có giá 2.500.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei: 355733072502708 có giá 2.500.000đồng. Tổng trị giá tài sản là 20.000.000đồng. Cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân đã trao trả cho anh Nguyễn Trọng P 02 chiếc điện thoại trên. Anh P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Đối với chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, BKS: 29Y1-14939, SM: HA08E-1655345, SK: RLHHA0801AY355301, qua xác minh chủ đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc B. Ông B mua chiếc xe trên vào khoảng tháng 9/2013, sau đó do không có nhu cầu sử dụng Ông B đã cho con rể là Nguyễn Trọng H sử dụng. Cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân đã trao trả anh Nguyễn Trọng H chiếc xe trên cùng 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc B. Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Đối với anh Lê Quang Q (chủ cửa hàng cầm đồ 144 đường T): Khi cầm cố xe máy (có đăng ký xe) nhưng không có giấy tờ ủy quyền hợp lệ của Ông B. Do vậy Công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Quang Q theo điểm e khoản 2 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ với mức phạt 3.500.000đồng. Đối với số tiền 15.000.000đồng từ việc cầm cố chiếc xe máy của T, anh Q không yêu cầu T phải bồi thường.

Đối với chị Doãn Thị T (chủ cửa hàng cầm đồ số 7 đường T), khi cầm cố 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen của NGUYỄN ANH T, về ý thức chủ quan chị T không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với số tiền 3.000.000đồng từ việc cầm cố 02 chiếc điện thoại trên, chị T không yêu cầu T phải bồi thường.

Đối với anh Lê Khắc C (chủ cửa hàng sửa chữa khóa): Khi T nhờ đánh chìa khóa xe máy, về ý thức chủ quan anh C không biết chiếc xe máy là tài sản do T phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với số tiền 100.000đồng từ việc đánh chìa khóa do T nợ chưa trả, anh C không yêu cầu T phải bồi thường.

Cơ quan điều tra đã xác minh số tài khoản 19033622598996 tại Ngân hàng Techcombank, chủ tài khoản là Nguyen Ngoc Nhi, địa chỉ tại thôn Vân Cẩm, xã Đông Lỗ, Hiệp Hòa, Bắc Giang nhưng Công an xã Đông Lỗ cung cấp tại địa chỉ trên không có ai tên là Nguyễn Ngọc N. Do vậy cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân đã tách phần tài liệu liên quan đến việc T chuyển tiền vào số tài khoản trên để điều tra xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, kiểu máy: IT2170, màu vỏ: xanh đen, số Imei 1: 359623091355186, số Imei 2: 359623091355194, bên trong lắp sim số thuê bao: 0962832138 và 0586996796 là của T do thiếu tiền trả anh C đánh chìa khóa nên T đã đưa cho anh C để làm tin.

Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 03.07.2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố NGUYỄN ANH T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mỡnh là phạm tội và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo NGUYỄN ANH T từ 18 đến 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, kiểu máy: IT2170, màu vỏ: xanh đen, số Imei 1: 359623091355186, số Imei 2: 359623091355194. Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe máy, tay cầm bằng nhựa màu đen có dòng chữ “Key World”, phần thân chìa bằng kim loại màu sáng vàng đỏ có hình dáng 06 cạnh. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

Bị cáo T không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra; phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, biên bản định giá tài sản... có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 17h15’ ngày 28/4/2020 tại nhà trọ số 4 ngách 387/91 đường P, phường Đ, Thanh Xuân Hà Nội, NGUYỄN ANH T có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Trọng P 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei: 353327070134101 trị giá 2.500.000đồng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu đen, đã qua sử dụng, số Imei: 355733072502708 trị giá 2.500.000đồng.

Đến khoảng 19h cùng ngày NGUYỄN ANH T trộm cắp của anh Nguyễn Trọng H 01 xe máy Honda Dream màu nâu, BKS: 29Y1-14939, SM: 1655345, SK: 355301 xe đã qua sử dụng trị giá 15.000.000đồng cũng tại nhà trọ số 4 ngách 387/91 đường P, phường Đ, Thanh Xuân Hà Nội.

Tổng giá trị tài sản NGUYỄN ANH T trộm cắp là 20.000.000đồng.

Hành vi của bị cáo NGUYỄN ANH T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Mặt khác, nhân thân của bị cáo xấu. Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Tội cắp tài sản”; Điều đó chứng tỏ bị cáo đã được giáo dục, răn đe bằng pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: 01 tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bố bị cáo là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về những vấn đề khác:

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

*Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo bản thân không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về vật chứng, xử lý vật chứng: Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, kiểu máy: IT2170, màu vỏ: xanh đen, số Imei 1: 359623091355186, số Imei 2: 359623091355194. Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe máy, tay cầm bằng nhựa màu đen có dòng chữ “Key World”, phần thân chìa bằng kim loại màu sáng vàng đỏ có hình dáng 06 cạnh.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Quyết định

1. Tuyên bố bị cáo NGUYỄN ANH T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo NGUYỄN ANH T 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2020.

3. Những vấn đề khác:

* Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, kiểu máy: IT2170, màu vỏ: xanh đen, số Imei 1: 359623091355186, số Imei 2: 359623091355194

Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe mô tô, tay cầm bằng nhựa màu đen có dòng chữ “Key World”.

(Tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 27 tháng 7 năm 2020 giữa Công an quận Thanh Xuân và Chi cục thi hành dân sự quận Thanh Xuân).

* Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 136, 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh mức án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:

Bị cáo NGUYỄN ANH T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ