vanban.org

Bản án 160/2019/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/11/2019 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 và điểm a, điểm B khoản 3 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy định cơ chế quản lý tài chính về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, …

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận toàn Bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N đối với Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Tranh chấp hợp đồng lao động đòi BHXH, BHYT, BHTN"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 và điểm a, điểm B khoản 3 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy định cơ chế quản lý tài chính về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, …
  • Căn cứ chính? Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 186 Bộ luật Lao động
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2019/LĐ-ST
Ngày: 27 tháng 11 năm 2019
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng lao động
đòi BHXH, BHYT, BHTN”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Hƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Chi - Cử nhân trường Đại học Công đoàn Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục quận L từ năm 1985 đến năm 2012, nguyên Chủ tịch Công đoàn Phòng Giáo dục và Đào tạo quận L từ năm 1997 đến năm 2012.

2. Ông Ngô Văn Sỹ - Cử nhân Luật trường Đại học Luật Hà Nội.

- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Duy Toàn - Thư ký Toà án nhân dân quận L, thành phố Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động sơ thẩm thụ lý số 63/2019/TLST-LĐ, ngày 30 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động về đòi tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2019/QĐXXST-LĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2019/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Q - Bà Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên tòa. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc O, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 19, phường H, quận C , thành phố Đ (Giấy ủy quyền ngày 03 tháng 6 năm 2019) - Bà Lê Thị Ngọc O có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA; Địa chỉ trụ sở: Lô N, đường số 06, Khu công nghiệp H, quận L, thành phố Đ. Người đại diện theo pháp luật của Bị đơn: Ông K, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1960; Hộ chiếu số: xxxxxxxxx, ngày cấp 17 tháng 6 năm 2009, nơi cấp Đại Hàn Dân Quốc; Chức vụ: Giám đốc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 6 Nangok-ro 74-gil, Gwanak-gu, Seoul, nước Đại Hàn Dân Quốc - Ông K vắng mặt tại phiên tòa thứ hai không có lý do.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố Đ; Địa chỉ trụ sở: Số 43 đường X, quận H, thành phố Đ.

- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Anh H - Chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Quản lý thu của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ (Giấy ủy quyền ngày 25 tháng 11 năm 2019) - Ông Trần Anh H có mặt tại phiên tòa.

4. Người làm chứng: Bà Lê Thị Kiều C, sinh năm 1981 - Nguyên là nhân viên Phòng Hành chính - Nhân sự của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA; Địa chỉ: Số 64/9 đường T, phường H, quận C , thành phố Đ - Bà Lê Thị Kiều C có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình tham gia tố tụng của đại diện nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trìnBắcày:

Bà Nguyễn Thị N là người lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA từ ngày 16 tháng 8 năm 2014 đến ngày 30 tháng 7 năm 2018 thì Buộc phải nghỉ việc do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA không còn hoạt động, tổng cộng thời gian làm việc của Bà Nguyễn Thị N là 03 năm 11 tháng 14 ngày theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trong quá trình làm việc, Bà Nguyễn Thị N đã chấp hành đúng Hợp đồng lao động mà các Bên đã ký kết.

Từ ngày 01 tháng 8 năm 2018 đến nay, người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA là ông K không có mặt tại trụ sở Công ty; Cũng từ thời điểm 01 tháng 8 năm 2018 đến nay thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã không thực hiện các thỏa thuận về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp cho Bà Nguyễn Thị N theo hợp đồng lao động đã ký kết với Bà Nguyễn Thị N và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.

Theo đơn khởi kiện thì Bà Nguyễn Thị N cho rằng Bà Nguyễn Thị N đã trích trong tiền lương của mình nộp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA để Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA thực hiện việc đóng tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp cho Bảo hiểm xã hội thành phố Đ. Vì vậy, Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận L giải quyết Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA thanh toán cho Bà Nguyễn Thị N số tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp là 18.751.952 đồng.

Ngoài ra Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu gì thêm.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Bị đơn đều vắng mặt, không có văn Bản trìnBắcày ý kiến.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trìnBắcày:

(+). Đối với ngƣời lao động nói chung khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA tại Tòa án nhân dân quận L:

- Về số tiền phải đóng Bảo hiểm xã hội (Bao gồm nợ gốc và lãi chậm nộp) mà Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA còn nợ của người lao động theo đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận L được thể hiện chi tiết từng người lao động trong danh sách đính kèm Công văn số 1014/BHXH-QLT ngày 01 tháng 7 năm 2017 và Công văn số 1642/BHXH-QLT ngày 11 tháng 10 năm 2019 của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ.

- Về thu hồi tiền nợ Bảo hiểm xã hội sau khởi kiện:

Khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 quy định hàng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng Bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ Bảo hiểm xã hội.

Điểm a khoản 2 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định khi nhận được tiền đóng của người sử dụng lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội trực tiếp quản lý người tham gia thu tiền đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, kể cả tiền lãi chậm đóng đối với người lao động đủ điều kiện hưởng Bảo hiểm xã hội hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc để kịp thời giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật.

Do đó, căn cứ các quy định nêu trên, khoản tiền nợ Bảo hiểm xã hội của người lao động khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA được thu hồi sau khởi kiện, đề nghị chuyển về tài khoản chuyên thu của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ.

- Căn cứ tính lãi chậm nộp:

+ Mức lãi suất đối với trường hợp người sử dụng lao động chậm đóng Bảo hiểm y tế thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ: “Trường hợp chậm đóng BHYT từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu Bằng 02 lần mức lãi suất thị trường liên N hàng kỳ hạn 9 tháng do N hàng Nhà nước Việt Nam công Bố trên Cổng Thông tin điện tử của N hàng Nhà nước Việt Nam năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng. Trường hợp lãi suất liên N hàng năm trước liền kề không có kỳ hạn 9 tháng thì áp dụng theo mức lãi suất của kỳ hạn liền trước kỳ hạn 9 tháng”.

+ Mức lãi suất đối với các trường hợp người sử dụng lao động chưa đóng, chậm đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp:

Mức lãi suất đối với các trường hợp người sử dụng lao động chưa đóng, chậm đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định tại điểm B khoản 3 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ: “Trường hợp trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH, BHTN từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu Bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH, BHTN Bình quân của năm trước liền kề”.

(+). Đối với trƣờng hợp cụ thể của Bà Nguyễn Thị N:

- Thời gian Bà Nguyễn Thị N đã đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đ là từ ngày 01 tháng 11 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018.

- Số tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải đóng cho người lao động là Bà Nguyễn Thị N số tiền 18.751.952 đồng (gồm nợ gốc 17.304.237 đồng, nợ lãi chậm nộp 1.447.715 đồng).

* Quá trình giải quyết vụ án, ngƣời làm chứng Lê Thị Kiều C trìnBắcày:

Từ ngày 16 tháng 9 năm 2014 đến ngày 03 tháng 8 năm 2018 (ngày Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA tạm ngừng hoạt động), chức danh công việc của Bà Lê Thị Kiều C tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA là phụ trách công tác hành chính nhân sự. Nay Bà Lê Thị Kiều C cung cấp Bảng chia lương cho từng người lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA từ ngày 01 tháng 6 năm 2018 đến ngày 30 tháng 6 năm 2018 và Bảng chấm công từng người lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA từ ngày 01 tháng 7 năm 2018 đến ngày 21 tháng 7 năm 2018. Tất cả các số liệu này đều được trích từ hồ sơ quản lý nhân sự trong thời gian Bà Lê Thị Kiều C làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA, đề nghị Tòa án nhân dân quận L xem xét làm chứng cứ để giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp:

Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N với Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA là tranh chấp về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bên cạnh đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA có trụ sở chính đặt tại quận L, thành phố Đ và chỉ mới tạm ngừng hoạt động, chưa đăng ký giải thể, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thời hiệu khởi kiện:

Tại Báo cáo số 19/2018-BC ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Phòng nhân sự Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA về việc Báo cáo nhanh tình hình ngừng việc tập thể, đình công tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA gửi Ban Quản lý các Khu Công nghiệp và Chế xuất Đ, Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội thành phố Đ, Liên Đoàn lao động thành phố Đ, Ủy Ban nhân dân quận L, Công an phường BẮC, Công an quận L, Phòng An ninh kinh tế - Công an thành phố Đ, Bảo hiểm xã hội thành phố Đ và Cục thuế thành phố Đ, có ghi: “Hiện công ty không liên lạc được với chủ đầu tư là Ông: K, giám đốc công ty và ông: K W S, giám đốc điều hành (hiện đang ốm nằm viện tại Hàn Quốc) không thể quay lại Việt Nam”.

Tại Báo cáo số 1099/BQL-KHTH ngày 31 tháng 7 năm 2018 của Ban Quản lý các Khu Công nghiệp và Chế xuất Đ về việc Báo cáo tình hình ngừng việc tập thể tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA gửi Ủy Ban nhân dân thành phố Đ, có ghi: “Theo thông Báo công ty cho người lao động nghỉ phép từ ngày 21/7-01/08/2018 đi làm lại.

Sáng ngày 23/7/2018, tại Công ty TNHH MTV TBO VINA có gần 100 người lao động đến Công ty đòi tiền lương tháng 6/2018. Kết quả giải quyết:

Nhận được thông tin UBND quận L chủ trì, phối hợp với Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Đ, Công đoàn các Khu công nghiệp và chế xuất đã đến Công ty kịp thời tìm hiểu nội dung vụ việc: Qua trao đổi với Bà Lê Thị Kiều C - Trưởng phòng nhân sự được Biết: Ngày 20/7/2018 Công ty thông Báo cho người lao động nghỉ phép từ 21/7/2018 đến 31/7/2018, nhưng thông tin không đến hết với người lao động nên có gần 100 người lao động đến Công ty làm việc, đồng thời Biết thông tin ông K W S - Giám đốc điều hành Công ty về Hàn Quốc, người lao động nghi ngờ Giám đốc Công ty Bỏ trốn, nên người lao động yêu cầu Công ty phải trả đủ lương”.

Tại Công văn số 1549/BQL-QL,XT&HTĐT ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Ban Quản lý khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đ về việc cung cấp thông tin Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA gửi Công đoàn Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đ có ghi: “Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đ (Ban Quản lý) nhận Công văn số 162/CĐKCNC ngày 05/7/2019 của Công đoàn Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đ liên quan Công ty TNHH MTV TBO Vina. Ban Quản lý thông tin như sau:

….………….

Công ty TNHH MTV TBO Vina không còn hoạt động sản xuất tại địa điểm đăng ký (đường số 6, KCN H, quận L) kể từ ngày 21/7/2018. Công ty TNHH MTV TBO Vina đang nợ lương người lao động, nợ tiền Bảo hiểm xã hội, nợ nộp phạt cho Cục Thuế Đ, nợ tiền thuê nhà xưởng của Công ty TNHH Daewon Đ, nợ hợp đồng Bảo vệ, vv; chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật Ông K đã xuất cảnh về nước từ ngày 12/7/2018”.

Xét theo lời trìnBắcày của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã ngừng sản xuất và hoạt động ngày 03 tháng 8 năm 2018 là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, trong đó có Báo cáo số 19/2018-BC ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Phòng nhân sự Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA về việc Báo cáo nhanh tình hình ngừng việc tập thể, đình công tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA, phù hợp với Báo cáo số 1099/BQL-KHTH ngày 31 tháng 7 năm 2018 của Ban Quản lý các Khu Công nghiệp và Chế xuất Đ về việc Báo cáo tình hình ngừng việc tập thể tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA và phù hợp với Công văn số 1549/BQL-QL,XT&HTĐT ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Ban Quản lý khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đ về việc cung cấp thông tin Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA gửi Công đoàn Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012 thì “Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi Bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mìnBắcị vi phạm”. Vì vậy việc ngày 25 tháng 6 năm 2019 Bà Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA là còn trong thời hiệu khởi kiện, đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 149, khoản 3 Điều 150 và Điều 151 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012.

Về điều kiện khởi kiện:

Việc nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp là tranh chấp thuộc trường hợp không Bắt Buộc phải qua thủ tục hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012. Vì vậy, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N có đủ điều kiện khởi kiện Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA về đòi tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp.

Về thủ tục tố tụng:

Sau khi thụ lý vụ án, ngày 01 tháng 8 năm 2019, Tòa án nhân dân quận L đã ra Thông Báo số 01/2019/TB-TA, theo đó thông Báo cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA (Địa chỉ đường số 06, Khu công nghiệp H, quận L, thành phố Đ) - Người đại diện theo pháp luật: Ông K, sinh năm 1960 - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 6 Nangok-ro 74-gil, Gwanak-gu, Seoul, Hàn Quốc, liên hệ với Tòa án nhân dân quận L để giải quyết các hồ sơ vụ án dân sự thụ lý về việc “Tranh chấp đòi tiền lương, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp” theo đơn khởi kiện của những người lao động. Quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông Báo lần đầu mà Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA không có mặt thì Tòa án nhân dân quận L sẽ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Thông Báo trên của Tòa án nhân dân quận L đã được phát sóng vào lúc 06 giờ 30 phút các ngày 09, 10 và 11 tháng 8 năm 2019 trên Đài truyền hình Việt Nam kênh VTV8, đồng thời được đăng trên Báo Nhân Dân vào các ngày 10, 11 và 12 tháng 8 năm 2019. Tuy nhiên, trong suốt toàn Bộ quá trình Tòa án nhân dân quận L thụ lý, giải quyết vụ án do nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N khởi kiện thì Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA vẫn không đến trụ sở Tòa án nhân dân quận L để giải quyết và cũng không có ý kiến phản hồi về việc khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại điểm B khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA mặc dù đã được Toà án thông Báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N trong thông Báo thụ lý và nội dung những vấn đề hoà giải trong các thông Báo hoà giải nhưng không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Bà Nguyễn Thị N nên Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, cũng như căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA yêu cầu truy đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho Bà Nguyễn Thị N từ ngày 01 tháng 11 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018 số tiền là 18.751.952 đồng thì thấy:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N, trìnBắcày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA từ ngày 16 tháng 8 năm 2014 đến ngày 30 tháng 7 năm 2018 thì Buộc phải nghỉ việc do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA không còn hoạt động. Quá trình làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã đăng ký tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho Bà Nguyễn Thị N từ ngày 01 tháng 11 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018 và hàng tháng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã trích tiền trong lương của Bà Nguyễn Thị N với mục đích để đóng tiền Bảo hiểm xã hội cho Bà Nguyễn Thị N. Tuy nhiên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA không thực hiện việc đóng Bảo hiểm xã hội cho Bà Nguyễn Thị N. Lời khai này của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn hoàn toàn phù hợp với lời khai của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hợp đồng lao động ký giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA với Nguyễn Thị N và Sổ Bảo hiểm xã hội mã số 4811009384. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác địnBắcà Nguyễn Thị N là người lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA. Căn cứ Công văn số 1642/BHXH-QLT ngày 11 tháng 10 năm 2019 kèm theo Bảng tính số tiền phải đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ và Sổ Bảo hiểm xã hội mã số 4811009384 xác định rằng Bà Nguyễn Thị N có tham gia Bảo hiểm xã hội khi làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA. Tuy nhiên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA chưa đóng tiền Bảo hiểm xã hội cho Bà Nguyễn Thị N từ ngày 01 tháng 11 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018, số tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải đóng cho Bà Nguyễn Thị N là 18.751.952 đồng (trong đó gốc 17.304.237 đồng, lãi 1.447.715 đồng). Theo Bà Nguyễn Thị N thì số tiền này đã được Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA trích trừ tiền lương hàng tháng với mục đích để đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp cho Bà Nguyễn Thị N nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA chưa nộp vào quỹ Bảo hiểm, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Bà Nguyễn Thị N. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội thì trách nhiệm của người sử dụng lao động là “Đóng Bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật Bảo hiểm xã hội để đóng cùng một lúc vào quỹ Bảo hiểm xã hội”. Do đó, có cơ sở xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã trích tiền lương của người lao động để đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01 tháng 11 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018 số tiền là 18.751.952 đồng (trong đó gốc 17.304.237 đồng, lãi 1.447.715 đồng) nhưng đã không nộp vào quỹ Bảo hiểm xã hội số tiền này, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, vi phạm trách nhiệm đóng Bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có Bất cứ ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này cho thấy Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đã từ Bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 352 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 47, khoản 1 Điều 186, khoản 2 Điều 200 Bộ luật lao động năm 2012; khoản 1 Điều 2, Điều 15, khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 17, khoản 8 Điều 18, khoản 2 Điều 21, Điều 22, Điều 23, khoản 1 Điều 85, Điều 86, khoản 3 Điều 122 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; khoản 2 Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 97, Điều 99, Điều 108, Điều 109 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 và điểm a, điểm B khoản 3 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N.

Ngay sau khi Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA nộp đủ số tiền nói trên vào Quỹ Bảo hiểm xã hội thì Bà Nguyễn Thị N có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để cập nhật quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội của mình.

Ngoài ra nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L trìnBắcày quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn Bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 96 và Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc thụ lý, thời hạn giải quyết và việc tống đạt, thông Báo các văn Bản tố tụng được thực hiện đảm Bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 195, Điều 196 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án, đảm Bảo cho các đương sự đuộc thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 73, Điều 77 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Còn Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trìnBắcày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia quá trình tố tụng là không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận thấy:

Căn cứ Sổ Bảo hiểm, quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội; Bảng chấm công tháng 7 năm 2018 và Bảng sao kê tài khoản N hàng về việc chi trả tiền lương của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA đối với Bà Nguyễn Thị N, Kiểm sát viên nhận thấy có căn cứ xác định hiện nay Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA còn nợ Bà Nguyễn Thị N tiền Bảo hiểm xã hội chưa đóng cho Bà Nguyễn Thị N là 18.751.952 đồng.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án niêm yết và thông Báo hợp lệ trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA không có ý kiến trìnBắcày và không tham gia quá trình tố tụng.

Xét thấy, quá trình làm việc, Bà Nguyễn Thị N luôn chấp hành nội quy, quy định Công ty, không vi phạm hợp đồng lao động. Tuy nhiên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA không đóng tiền Bảo hiểm xã hội theo Luật Bảo hiểm xã hội trong thời gian Bà Nguyễn Thị N làm việc tại Công ty là vi phạm quy định về đóng Bảo hiểm xã hội cho người lao động và thỏa thuận trong hợp đồng lao động, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Do đó, việc Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận L Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải truy đóng tiền Bảo hiểm xã hội là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

Trên cơ sở đó, căn cứ Điều 201 và Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012; Điều 15, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 23 và Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N:

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải nộp vào Bảo hiểm xã hội thành phố Đ số tiền Bảo hiểm xã hội của Bà Nguyễn Thị N 18.751.952 đồng.

Án phí lao động sơ thẩm: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải chịu theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí:

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải nộp án phí lao động sơ thẩm số tiền 18.751.952 đồng x 3% = 562.558 đồng.

Bà Nguyễn Thị N không phải nộp án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 184, điểm B khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng:

- Điều 149, khoản 3 Điều 150, Điều 151 và Điều 352 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 47, khoản 3, khoản 1 Điều 186, khoản 2 Điều 200, khoản 1 Điều 201, khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012;

- Khoản 1 Điều 2, Điều 15, khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 17, khoản 8 Điều 18, khoản 2 Điều 21, Điều 22, Điều 23, khoản 1 Điều 85, Điều 86 và Điều 122 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

- Điểm a khoản 2 và điểm a, điểm B khoản 3 Điều 6 Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy định cơ chế quản lý tài chính về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn Bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị N đối với Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động về đòi tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp”.

1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải nộp vào quỹ Bảo hiểm xã hội số tiền nợ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp cho Bà Nguyễn Thị N từ ngày 01 tháng 11 năm 2016 đến ngày 31 tháng 7 năm 2018 số tiền là 18.751.952 đồng (Mười tám triệu Bảy trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi hai đồng).

Sau khi Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA nộp đủ số tiền nói trên vào quỹ Bảo hiểm xã hội thì Bà Nguyễn Thị N có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để cập nhật quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội của Bà Nguyễn Thị N.

2. Kể từ ngày Bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Bên phải thi hành án chưa thanh toán đủ số tiền như đã nêu trên, thì hàng tháng Bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi (Đối với tiền nợ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động, Bệnh nghề nghiệp thì lãi suất được tính theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội; Đối với nợ Bảo hiểm y tế thì lãi suất được tính theo mức lãi suất thị trường liên N hàng).

3. Án phí lao động sơ thẩm:

3.1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên TBO VINA phải nộp án phí lao động sơ thẩm số tiền 562.558 đồng (Năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm năm mươi tám đồng).

3.2. Bà Nguyễn Thị N không phải nộp án phí lao động sơ thẩm.

4. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị:

4.1. Án xử công khai sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27 tháng 11 năm 2019. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) Bản án tại địa phương nơi cư trú. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) Bản án tại trụ sở của Bị đơn và trụ sở Ủy Ban nhân dân phường BẮC, quận L, thành phố Đ.

4.2. Viện kiểm sát nhân dân quận L có quyền kháng nghị phúc thẩm Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27 tháng 11 năm 2019. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ có quyền kháng nghị phúc thẩm Bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27 tháng 11 năm 2019.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì Bên được thi hành án dân sự, Bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc Bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ