- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc N phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 160/2017/HSST Ngày 09/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Thiện;
Ông Nguyễn Nhật Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 158/2017/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Lê Ngọc N (Lê Nguyên N), sinh năm 1995 tại tỉnh T; nơi ĐKNKTT: Thôn 1, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lê Ngọc A, sinh năm 1968 và bà Trần Thị S, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2017 cho đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Ngọc A, sinh năm 1968, trú tại: Thôn 1, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: 24B/5Y đƣờng D5, khu dân cƣ M, khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt
2. Lê Hữu S, sinh năm 1982, trú tại: Thôn 8, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: 14/20 khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt
3. Hoàng Ngọc L, sinh năm 1977, trú tại: 497A khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.Vắng mặt
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Ngọc N bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố hành vi phạm tội nhƣ sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/3/2017, Công an phƣờng B, thị xã T tiến hành tuần tra trên tuyến đƣờng Nguyễn Du gần cân xăng Hoàng Phƣơng thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã T thì phát hiện Lê Ngọc N điều khiển xe mô tô biển số 36B2-180.03 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại để kiểm tra thì bất ngờ N bỏ xe chạy bộ trốn. Lực lƣợng Công an đuổi theo khoảng 20 mét thì bắt đƣợc N. Qua kiểm tra phát hiện N đang ngậm trong miệng 04 gói ni lông hàn kín hai đầu, bọc trong 04 gói giấy nhựa bên trong có chứa heroine nên tiến hành bắt quả tang cùng tang vật.
Bản kết luận giám định số 181/MT-PC54 ngày 08/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định: Tinh thể màu trắng trong 04 gói nilon hàn kín mà Công an thu giữ của Lê Ngọc N có thành phần heroine, trọng lƣợng 0,6814 gam, hàm lƣợng 71,48%.
Qua điều tra, Ngọc khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/3/2017, cha của bị cáo là Lê Ngọc A đƣa cho bị cáo số tiền 14.900.000 đồng để N đƣa gửi về quê cho ông bà nội. Sau khi cầm tiền, N điều khiển xe mô tô chạy đến vòng xoay An Phú gặp một ngƣời phụ nữ (không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ) mua 800.000 đồng ma túy về để sử dụng dần. Sau khi đƣa tiền cho ngƣời phụ nữ và lấy ma túy bỏ vào miệng ngậm và trên đƣờng về thì bị bắt phạm tội quả tang.
Tại cáo trạng số: 181/QĐ/KSĐT ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Lê Ngọc N về Tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và xác định: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị cơ quan có thẩm quyền đƣa vào cơ sở chữa bệnh để cai nghiện ma túy 2 năm; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị: Xử phạt bị cáo N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ, đƣợc thẩm tra trƣớc phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và các tài liệu khác,
XÉT THẤY
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/3/2017, trên tuyến đƣờng Nguyễn Du thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã T, bị cáo Lê Ngọc N điều khiển xe mô tô biển số 36B2-180.03 ngậm trong miệng 04 gói ni lông hàn kín hai đầu, bọc trong 04 gói giấy nhựa bên trong có chứa heroine nhằm vận chuyển về nhà để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật, tại Bản kết luận giám định số 181/MT-PC54 ngày 08/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng xác định: Tinh thể màu trắng trong 04 gói nilon hàn kín mà Công thu giữ của Lê Ngọc N có thành phần heroine, trọng lƣợng 0,6814 gam, hàm lƣợng 71,48%, trọng lƣợng heroine trong 0,6814 gam là 0,4871 gam. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành Tội vận chuyển trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Do đó Cáo trạng của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo Lê Ngọc N về Tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ra sự nghiện ngập và mầm mống của các tệ nạn xã hội khác nhƣng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 06/8/2013 bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 02 năm vì lý do nghiện ma túy nhƣng không lấy đó làm bài học để tự giáo dục, tu dƣỡng mà lại tiếp tục sử dụng ma túy dẫn đến hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Hiện nay tình hình mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra khá phổ biến, gây tâm lý hoang mang và bất an của nhân dân trong trên địa bàn. Vì vậy việc đƣa ra xét xử lƣu động là cần thiết nhằm tuyên truyền giáo dục trong quần chúng nhân dân và cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo do không xác định rõ lai lịch, địa chỉ nên đƣợc xử lý ở vụ án khác khi có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe môtô biển số 36B2-180.03, kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe là phƣơng tiện bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Qua điều tra xác định xe thuộc quyền sở hữu của ông Trƣơng Hữu S, ông S cho em là Lê Hữu Đông mƣợn đi làm thợ xây, khoảng tháng 5/2016 thì bị đối tƣợng tên Thừa (không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ) chiếm đoạt trên địa bàn phƣờng Dĩ An, thị xã Dĩ An. Ông Đông đã trình báo cho Công an phƣờng Dĩ An về việc mất xe. Ngày 12/9/2016, ông Lê Ngọc A mua lại chiếc xe này tại cửa hàng cầm đồ Cao Lê tại địa chỉ 497A khu phố Bình Đƣờng 4, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng do ông Hoàng Ngọc L làm chủ với giá 10.700.000 đồng và cho bị cáo N mƣợn sử dụng. Ông L khai nhận: Ông L mua chiếc xe này của một ngƣời thanh niên không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ với giá 10.000.000 đồng nhƣng không làm giấy tờ mua bán, sau đó bán lại cho ông A nhƣ trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã có văn bản thông báo cho Công an thị xã Dĩ An xử lý vụ việc và đã giao trả xe cho ông S là có căn cứ.
Số tiền 14.900.000 đồng thu giữ khi bắt bị cáo, số tiền này là của ông A giao cho bị cáo gửi về cho ông bà nội không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An trả lại cho ông A là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu 181/MT-PC54 là tang vật của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc N (Lê Nguyên N) phạm Tội vận chuyển trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Lê Ngọc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu số 181/MT-PC54. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2017).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Ngọc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Bị cáo; - Lƣu HS, THAHS, AV. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Sỹ Trứ |