vanban.org

Bản án 160/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 15/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Hoàng Văn Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đức L, huyện Quế V, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Quyết Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------
Bản án số: 160/2017/HSST
Ngày 15/8/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hãn; Ông Nguyễn Thế Sách.

Nhưng người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh, Kiểm sát viên;

Ngày 15/8/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 142/2017/HSST, ngày 15/6/2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2017/QĐXX-HSST ngày 10/7/2017 đối với bị cáo:

Hoàng Văn Q - sinh năm 1982; HKTT: Vệ X - Đức L - Quế V - Bắc Ninh; Hiện ở: Phương C– Phương L – Quế V – Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 12/12; Bố đẻ: Hoàng Ngọc Qu – sinh năm 1944; Mẹ đẻ: Lê Thị Th - sinh năm 1947; Gia đình có 04 anh em, bị caó là thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị L - sinh năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2005; con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị caó tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1968

Địa chỉ: Vệ X-Đức L-Quế V-Bắc Ninh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do muốn đổi lại ruộng đất đã chuyển đổi cho gia đình anh Nguyễn Văn M từ trước. Khoảng 13h30’ ngày 05/01/2017, Hoàng Văn Q đi bộ một mình đến nhà anh Nguyễn Văn M ở cùng thôn để nói chuyện. Khi đến nhà anh M, Q nói anh M phải đến gặp và nói chuyện với bố mẹ của Q về việc đổi lại ruộng đất đã chuyển đổi từ trước. Do anh M mệt nên không nói chuyện nằm trên giường nghỉ. Q chửi anh M và dùng tay giật chăn, kéo anh M dậy. Hai bên giằng co, xô đẩy nhau trong nhà và Q chửi anh M nhiều lần, anh M không đồng ý nói chuyện và đuổi Q về. Cùng lúc đó ông Hoàng Văn Minh ở cùng thôn với anh M và Q thấy trong nhà anh M to tiếng, ông Minh vào thấy anh M và Q vẫn đang giằng co, du đẩy nhau. Ông Minh đã can ngăn, đẩy anh M và Q ra ngoài sân, ông Minh đuổi Q ra ngoài cổng nhà anh M. Q ra ngoài cổng nhà anh M nhặt 01 miếng Bê tông cầm trên tay quay lại sân nhà anh M định ném về phía anh M, anh M đã tiến lại gần ôm không cho Q ném vào mình. Ông Minh vào can ngăn, Q đã dùng miếng bê tông đập thẳng vào mặt trúng mũi anh M làm anh M bị chảy máu. Ông Minh giằng được miếng bê tông ở tay Q và đuổi Q ra khỏi cổng nhà anh M. Ông Minh nhặt 1/4 viên gạch chỉ ở trước cổng nhà anh M ném về phía Q thì trúng vào gót giầy của Q và chửi, đuổi Q đi. Q đi ra ngoài thấy 01 chiếc xẻng để ở vệ đường, Q cầm lấy quay lại chửi anh M thì được mọi người can ngăn, đuổi Q về.

Sau khi sự việc xảy ra, anh M đến Công an xã Đức Long, Quế Võ trình báo và vào Trạm y tế xã Đức Long rửa, băng vết thương. Đến ngày 13/01/2017, anh M đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Quân y 110 tổng số 03 đợt; đợt 1: từ ngày 13/01/2017 đến ngày 18/01/2017; đợt 2: từ ngày 20/01/2017 đến ngày 23/01/2017; đợt 3: từ ngày 06/02/2017 đến ngày 16/02/2017. Ngày 06/01/2017 anh Nguyễn Văn M làm đơn trình báo Công an huyện Quế Võ.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 15 ngày 04/3/2017 của Bệnh viện Quân y 110 chẩn đoán anh Nguyễn Văn M: “Thiểu năng tuần hoàn não; chấn thương vỡ xương chính mũi do bị đánh tuần thứ 2”.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 40/TgT ngày 04/4/2017 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Bắc Ninh kết luận đối với thương tích của anh Nguyễn Văn M:

“Sẹo mờ ngang sống mũi 2 vết kích thước mỗi vết 0,5cm. Áp dụng chương 9, tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Phần I. Sẹo vết thương phần mềm. Mục 1, số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ = 01%.

- Gãy xương chính mũi. Áp dụng chương 13, tổn thương cơ thể do tổn thương Tai – Mũi – Họng. Phần II. Mũi xoang. Mục 3.1, tổn thương tháp mũi không ảnh hưởng chức năng thở và ngửi = 09%.

Cơ chế hình thành vết thương do tác động ngoại lực bởi vật cứng.

Căn cứ vào Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định = 10% (Mười phần trăm)”.

Về vật chứng vụ án: Đối với miếng bê tông màu xám sau khi sự việc xảy ra, ông Hoàng Văn Minh đã mang giao nộp cho Công an xã Đức Long. Công an xã Đức Long đã lập biên bản tạm giữ có kích thước (15 x 8,5 x 8 x 8,5)cm, dầy 3,5cm nhưng ông Minh chưa ký biên bản. Sau đó Công an xã đã bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ miếng bê tông màu xám trên. Anh M và ông Minh cho rằng không phải là miếng bê tông đó là Q dùng đánh anh M mà miếng bê tông mà Q dùng đánh anh M có kích thước to hơn, hình tam giác, khoảng (18 x 16 x 12)cm, dầy 08cm.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn M sau khi bị Q đánh gây thương tích đã phải đi bệnh viện Quân y 110 cấp cứu và điều trị tổng cộng 24 ngày. Anh M yêu cầu Q phải bồi thường tiền viện phí, tiền thuốc, chăm sóc, đi lại là 19.300.000 đồng. Ngoài ra, anh còn yêu cầu Q phải bồi thường cho anh những ngày anh không đi làm theo hợp đồng lao động giữa anh và bà Vũ Thái Giang với mức lương 9.000.000đ/tháng, thời gian yêu cầu bồi thường từ khi sự việc xảy ra đến nay tuy nhiên tại phiên tòa anh M khẳng định bị cáo đã bồi thường đầy đủ các khoản cho anh, anh nộp đơn đề nghị không yêu cầu bồi thường gì nữa và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ, Hoàng Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Q đủ yêu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 102/CTr-VKS ngày 14/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố Hoàng Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau; Phù hợp với toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1 điều 104; Điều 60; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS; Xử phạt Hoàng Văn Q từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng.

Đề nghị áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy tang vật là viên đã Bê tông.

Người bị hại không có ý kiến gì về nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát; Bị cáo xác định nhận thức rõ lỗi của mình, xin lỗi người bị hại và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CUẢ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra người bị hại có ý kiến đề nghị xem xét đối với tang vật trong vụ án tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Do mâu thuẫn về chuyện ruộng đất, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/01/2017, Hoàng Văn Q đã đến tận nhà anh Nguyễn Văn M, Hoàng Văn Q và có hành vi dùng miếng bê tông đập vào vùng mặt anh M làm anh M bị gãy xương chính mũi, bị thương tật 10% sức khỏe. Thương tích bị cáo gây ra cho anh M dưới 11% tuy nhiên bị cáo sử dụng hung khí là miếng Bê tông đây là hung khí gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại do vậy đủ cơ sở kết luận Hoàng Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích được quy định tại khoản 1 điều 104 của BLHS như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn dân cư, xâm phạm đến sức khỏe của người khác nên dư luận xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả; anh M có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 BLHS.

Từ những phân tích trên xét cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo tuy nhiên xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục đối với bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề cập giải quyết.

Đối với ông Hoàng Văn Minh trong khi can ngăn Q có cầm ¼ viên gạch ném xuống đường bật vào gót giầy của Q nhưng không gây thương tích gì, cơ quan điều tra đã nhắc nhở ông Minh là phù hợp;

Đối với chiếc xẻng Quyết nhặt ngoài đường rồi quay lại nhà anh Mạnh không rõ nguồn gốc xẻng của ai và Quyết cũng không dùng chiếc xẻng đó để gây thương tích cho ai nên không đề cập xử lý đối với chiếc xẻng là phù hợp.

Về vật chứng: Viên đã bê tông là vật không xử dụng được nên cần áp dụng điều 76 BLTTHS; Điều 41 BLHS tịch thu tiêu;

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định cuả pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104; Điều 60; Điều 41; Điểm b, h, p, khoản 1, khoản 2 Điều 46; Bộ luật hình sự; Điều 76, Điều 99 BLTTHS; Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Hoàng Văn Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã Đức L, huyện Quế V, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo được hưởng án treo trong thời gian thử thách nếu thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tang vật là tảng đá Bê tông có đặc điểm như mô tả tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 22/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Cỡ chữ