vanban.org

Bản án 16 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trình Văn M . Sửa một phần bản án sơ thẩm số 186/2019/HNGD-ST ngày 29/5/2019của TòaánnhândânhuyệnC ,tỉnh An Giang.

Về con chung: Công nhận sự tự nguyện của ông M và bà Giang. Ông Trình Văn M được quyền nuôi con chung tên Trình Văn K , sinh ngày 09/6/2017. Bà Hà Thị Cẩm G không phải cấp dưỡngnuôicon doôngMkhông yêu cầu. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XIN LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON"
  • Tòa quyết gì? Chấp chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trình Văn M . Sửa một phần bản án sơ thẩm số 186/2019/HNGD-ST ngày 29/5/2019của TòaánnhândânhuyệnC ,tỉnh An Giang.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật Tốtụngdânsự
TÒA ÁN NHÂNDÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 16 /2019/HNGĐ-PT
Ngày:06/8/2019
V/v Tranh chấp ly hôn, conchung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

-ThànhphầnHộiđồngxét xửphúcthẩmgồmcó:

Thẩm phán -Chủtọaphiêntòa:

Ông TrầnMinh Hải

CácThẩm phán:

Ông TrầnHoàng Vũ

Bà Trần Thị Thúy Hà

- Thưkýphiêntòa: Bà Lê YếnPhương -Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên tham giaphiêntoà.

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2019/TLPT-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn, con chung”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 186/2019/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhândânhuyệnC ,tỉnh An Giangbịkháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 284/2019/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2019giữa cácđương sự:

1. Nguyênđơn: Hà Thị Cẩm G , sinh năm 1994; Địachỉ: xã V , huyện C , tỉnh An Giang. (có mặt).

2. Bịđơn: Trình Văn M ,sinhnăm: 1990; Địachỉ: xã V ,huyệnC , tỉnh An Giang.(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 05/12/2018, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hà Thị Cẩm Giangtrìnhbày:

- Về hôn nhân: Bà và ông M kết hôn vào năm 2015, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V , huyện C , tỉnh An Giang vào năm 2017. Trong thời gian chung sống, bà và ông M xảy ra nhiều mâu thuẫn về tiền bạc và tình cảm nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà và ông M nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Bà và ông M đã ly thân từ tháng 6/2018 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm giữa bà và ông M không còn nên bà yêu cầuđượcly hôn vớiôngM .

- Về con chung: Có 1 con chung tên Trình Văn K , sinh ngày 09/6/2017. Trước đây khi vợ chồng ly thân, bà có thỏa thuận giao con cho ông M nuôi dưỡng, tuy nhiên trong quá trình ly thân, bà về thăm con thì ông M mắng chửi, gây khó khăn cho bà khi thăm con, do đó, sau khi ly hôn, bà yêu cầuđượcnuôi con, không yêu cầuôngM cấpdưỡngnuôicon.

- Vềtàisản chungvànợ chung: Khôngcó.

* Tại tờ tự khai ngày 08/01/2019 và quá trình tố tụng, bị đơn ông Trình Văn M trình bày:

- Về hôn nhân: Ông thống nhất với bà G về thời gian và điều kiện hết hôn. Sau khi cưới nhau, vào năm 2016 ông phát hiện bà G cờ bạc, sử dụng tiền ông dành giụm và còn vay mượn nợ bên ngoài,vìthươngvợnênôngbỏquavàvợchồnglàm ăn lotrảnợ. Năm 2018, ôngtiếp tụcpháthiệnbà G không rõ ràng về tiền bạc nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và bà G bỏ về nhà cha mẹ ruột từ ngày 19/5/2018 cho đến nay. Nay bà G yêu cầu ly hôn, ông cũng nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chungsốngvớinhaunênôngđồngýly hôn.

- Về con chung: Có1 conchung tên Trình Văn K , sinhngày 09/6/2017. Từ ngày 19/5/2018,bà G bỏ đi, bỏ con nhỏ lại cho ông nuôi đến nay. Trong quá trình nuôi dưỡng, ông và gia đình chăm sóc tốt cho cháu,đảm bảo cho cháusự pháttriểntốt,bản thân cháu cũngthíchbànội. Ôngthừanhận trong thời gian ly thân, khi bà G thăm con ông có thái độ nóng giận, mắng chửi bà G vì ông giận bà G đi bỏ con. Nay ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con và đồng ý tạo điều kiện cho bà G tới lui thăm nom, chăm sóccon,ôngkhông yêu cầubà G cấpdưỡngnuôicon chung.

- Vềtàisản chungvànợ chung: Khôngcó.

* Tại phiên tòa:

- Bà G trình bày: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ôngM phải cấpdưỡngnuôicon.

- Ông M : đồng ý ly hôn với bà G ; ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con, ông chỉ đồng ý cho bà G đếnnhà ông thăm cháu K,khôngđồngýchobà G rướcconvềthăm ngoại 1-2ngày.

Tạibảnánsơthẩm của Tòa ánnhândânhuyện C tuyên xử:

- Vềhônnhân:Côngnhậnthuậntình ly hôn giữabà Hà ThịCẩm G vàôngTrình VănM . Giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 12/5/2017của Ủy ban nhân dân xã V , huyện C , tỉnh An Giang khôngcòngiátrịpháp lý.

- Về con chung: Bà Hà Thị Cẩm G được quyền nuôi con chung tên Trình Văn K , sinh ngày 09/6/2017. Ông Trình VănM khôngphải cấpdưỡngnuôicondobà G không yêu cầu.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổidựa trên cơsởlợiích của con

Ngoài ra,bản áncòntuyênvề án phí vàquyềnkhángcáocủa cácđươngsự.

Ngày 29/5/2019 ông Trình Văn M có đơn kháng cáo đối với phần quyết định về con chung của bản án sơ thẩm số 186/2019/HNGĐ-ST ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện C , An Giang.

Tạiphiêntòaphúc thẩm:

Nguyên đơn bà Hà Thị Cẩm G đồng ý giao cháu Trình Văn K cho ông Trinh Văn M nuôi dưỡng, với điều kiện ông M phải tạo điều kiện thuận lợi để bà được tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục conchungvà cho bàđượcrướcconvềnhàngoại chơi.

Bị đơn: Vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cho ông được quyền nuôi dưỡng cháu K , ông đồng ý tạo điều kiện cho bà G trong việc thăm nom con chung, cũng như đồng ý cho bà G rước cháu M về nhà ngoại chơi. Nếuđượcnuôiconôngkhông yêu cầubà G cấpdưỡng.

- Đạidiện Viện Kiểm sát nhândântỉnh An Giangphát biểuýkiến:

+ Vềviệctuânthủphápluậttốtụngtrongquátrìnhgiảiquyếtvụ ánởgiaiđoạn phúc thẩm vàtại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tốtụngdân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa ông M và bà G đã thỏa thuận đươc với nhau về việc nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của ông M và bà G , căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo,sửabản án sơthẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căncứ kếtquảtranh luậntại phiêntòa, Hộiđồngxétxử nhậnđịnh:

Về thủ tục tố tụng: Ông Trình Văn M kháng cáo trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phíđầy đủnên được Hộiđồngxétxử chấpnhận.

Đối với yêu cầu kháng cáo của ông M thấy rằng: Ông M và bà G thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Trình Văn K , sinh ngày 09/6/2017, hiện nay cháu K đang do anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà G và ông M đều yêu cầu được nuôi con chung và cả hai đều cung cấp chứng minh cho yêu cầu của mình. Cháu K sinh ngày 09/6/2017, đến ngày xét xử sơ thẩm cháu K chưatròn36thángtuổi, theoquy địnhtạikhoản3 Điều81 của Luật Hôn nhânvàgiađìnhquy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, bà G thỏa thuận với ông M giao cháu K cho ông M nuôi dưỡng với điều kiện ngoài việc tới lui thăm nom, chăm sóc con, cho bà được thỉnh thoảng rước con đi chơi, về nhà thăm ngoại 1-2 ngày, nếu ông M không đồng ý bà G yêu cầu được nuôi con, bà G đồng ý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ông M trong việc tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Hội đồng xét xử sơ thẩm giải thích nhiều lần về quyền và nghĩa vụ của người được trực tiếp nuôi con và người không trực tiếp nuôi con nhưng ông M vẫn không đồng ý với yêu cầu chính đáng của bà G , hạn chế quyền và nghĩa vụ làm mẹ của bà G trong việc thăm nom, chăm sóc con chung được quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, cấp sơ thẩm quyết địnhgiaocháu K chobà G đượcnuôidưỡnglàđúngtheo qui địnhphápluật.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông M và bà G thỏa thuận ông M sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bà G được quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung, cũng như cho bà G được rước cháu K về nhà ngoại chơi và bà G đồng ý giao cháu Trình Văn K , sinh ngày 09/6/2017 cho ông M nuôi dưỡng,bàG khôngphảicấpdưỡngnuôi conchung. Nhậnthấy, đây là sự tự nguyện củaông Mvàbà G nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyên này. Từ nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêucầu khángcáo củaông M vàchấpnhậnđềnghị của Kiểm sátviên,sửa bản ánsơthẩm.

Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Minh được nhận lại án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theoquy định.

Vì cáclẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căncứ vàokhoản2 Điều308,khoản 1 Điều148và Điều313củaBộluật Tốtụngdânsự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp,quảnlývàsử dụngánphívàlệ phí Tòaán.

Xử:

- Chấp chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trình Văn M . Sửa một phần bản án sơ thẩm số 186/2019/HNGD-ST ngày 29/5/2019của TòaánnhândânhuyệnC ,tỉnh An Giang.

Về con chung: Công nhận sự tự nguyện của ông M và bà Giang. Ông Trình Văn M được quyền nuôi con chung tên Trình Văn K , sinh ngày 09/6/2017. Bà Hà Thị Cẩm G không phải cấp dưỡngnuôicon doôngMkhông yêu cầu.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổidựa trên cơsởlợiích của con.

- Vềánphíhônnhângiađìnhphúcthẩm:

Ông Trình Văn M được nhận 300.000 đổng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đìnhphúcthẩm theobiênlaithusố0014341ngày 18/6/2019 của Chicục Thihành ándânsự huyệnC , tỉnh An Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kểtừ ngày hếtthờihạnkháng cáo,khángnghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định ở Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều30 Luật Thihànhándân

Bảnánphúc thẩm có hiệu lựcpháp luậtkểtừ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ