- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HS-ST Ngày: 18/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Xuân Tựu
Bà Bế Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2026/TLST-HS ngày 11/02/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2026/QĐXXST-HS ngày 04/3/2026 đối với:
* Bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 11/10/1986 tại xã Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn D, sinh năm 1966 và bà Triệu Thị D1, sinh năm 1967; Có vợ là Ma Thị S (Đã ly hôn) và 01 (Một) con, sinh năm 2006; Tiền án: Không;
Tiền sự: 01 - Ngày 28/11/2023 bị Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (cũ) phạt tiền 2.250.000đ (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 212/QĐ-XPHC. Chưa thi hành, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Nhân thân:
+ Ngày 31/5/2012 bị Công an huyện P, tỉnh Cao Bằng (cũ) xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 102/QĐ-XPHC;
+ Ngày 23/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 12/2013/HSST.
+ Ngày 08/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 12/2015/HSST.
+ Ngày 12/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (cũ) xử phạt 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 02/2021/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trạm tạm giam số 2 - Công an tỉnh T từ ngày 15/12/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Các bị hại:
1. Anh Từ Văn D2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
2. Ông Ma Văn K, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Ông Từ Văn H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn cũ tiếp nhận tin báo về tội phạm của anh Từ Văn D2, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn cũ với nội dung: Vào khoảng 03 giờ ngày 16/5/2020 anh D2 bị mất trộm tài sản là 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu đen, đã qua sử dụng cùng số tiền 2.007.000đ (Hai triệu không trăm linh bảy nghìn đồng) để sau ốp lưng điện thoại. Theo lời khai của người chứng kiến trực tiếp vụ trộm cắp là anh Từ Văn H1 xác định: Hoàng Văn T, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Kạn cũ là người đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên của anh D2. Cùng ngày, CQCSĐT đã yêu cầu Hoàng Văn T đến làm việc, T đã tự giao nộp lại chiếc điện thoại nêu trên.
Quá trình giải quyết tin tố giác về tội phạm, Hoàng Văn T không có mặt tại địa phương nên CQCSĐT đã tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ngày 13/12/2023, CQCSĐT Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn cũ tiếp tục nhận được tin báo về tội phạm của ông Ma Văn K, sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn cũ với nội dung: Khoảng 10 giờ ngày 06/12/2023 ông K bị mất trộm tài sản là 01 (Một) bao thóc đựng trong bao bì màu đỏ. Sau đó chính T là người thông báo cho ông K biết T là người đã thực hiện hành vi trộm cắp bao thóc của ông K.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn T đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên ngày 19/3/2024 CQCSĐT Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn cũ ra Quyết định truy nã số 72/QĐTN-ĐTTH và ngày 16/5/2025 CQCSĐT Công an tỉnh B cũ ra Quyết định truy nã số 1096/QĐTN-CSHS đối với Hoàng Văn T. Ngày 15/12/2025 CQCSĐT Công an tỉnh T đã bắt được T. Vụ án được tiếp tục giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại giai đoạn điều tra, truy tố: Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ 2 lần thực hiện hành vi phạm tội của mình về thời gian, địa điểm, mục đích, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, thủ đoạn và tài sản đã trộm cắp được. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 16/5/2020, T điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS 97B1-722.02 (mượn của chị Hoàng Thị T1, em dâu của T) đi từ nhà mình đến nhà anh D2. Khi đến nơi, T quan sát thấy nhà không đóng cửa, điện trong nhà thắp sáng, có nhiều người đang ngủ dưới nền nhà và thấy 01 (Một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung J7, màu đen đang cắm sạc gần nơi anh D2 đang ngủ nên đã tiến đến rút dây sạc và lấy trộm chiếc điện thoại. Hành vi này đã bị anh Từ Văn H1 (là anh trai của anh D2) đang nằm trên giường kê gần đó phát hiện và tri hô lên. Do bị phát hiện nên T bỏ chạy khỏi nhà anh D2 theo đường liên thôn chạy xuống bờ suối ngay dưới nhà anh D2. Tại đây, T mở khóa điện thoại để sử dụng nhưng không được nên đã mở ốp lưng điện thoại thì thấy bên trong có số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng) bao gồm nhiều mệnh giá khác nhau từ 2.000đ (Hai nghìn đồng) đến 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), T đã lấy số tiền này chi tiêu cá nhân hết. Còn chiếc điện thoại Thậm đã giao nộp Công an xã Đ khi được mời lên làm việc vào sáng cùng ngày.
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 06/12/2023, T điều khiển xe mô tô BKS 97B1-829.25 (mượn của chị Hoàng Thị T1, em dâu của T) đi từ nhà mình đến nhà ông K. Khi đến nơi, T phát hiện ông K không ở nhà, quan sát thấy cửa bếp không khóa nên T đã đột nhập theo lối đi vào cạnh gian bếp rồi mở cửa bếp đi vào. Tại đây, T đã lấy trộm 01 (Một) bao thóc đựng trong bao bì màu đỏ sau đó đem bán cho ông Hoàng Văn H, sinh năm 1974, trú tại thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng). Sau khi bán thóc xong, T quay lại nhà ông K báo cho ông K biết về hành vi trộm cắp đã thực hiện và hẹn đến tối sẽ quay lại nói chuyện với ông K, tuy nhiên sau đó T đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (Một) bao thóc, loại thóc bao thai, khối lượng 37kg, đựng trong bao bì màu đỏ.
Kết luận định giá tài sản số 470/KL-HĐĐGTATTHS ngày 05/6/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu đen, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị 3.920.000đ (Ba triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 (Một) vỏ ốp điện thoại bằng nhựa màu đen tại thời điểm định giá có giá trị 25.000đ (Hai mươi lăm nghìn đồng). Tổng giá trị là 3.945.000đ (Ba triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐG ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (Một) bao thóc đựng trong bao bì màu đỏ, loại thóc bao thai, khối lượng 37kg tại thời điểm định giá có giá trị 333.000đ (Ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) và 01 (Một) vỏ bao tải dứa màu đỏ tại thời điểm định giá có giá trị 2.000đ (Hai nghìn đồng). Tổng giá trị là 335.000đ (Ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Tại cáo trạng số 27/CT-VKSKV9 ngày 09/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như Cáo trạng đã nêu.
- Ý kiến của Kiểm sát viên duy trì quyền công tố tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
+ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 173; Các Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52/BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/12/2025.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48/BLHS; Các Điều 584, 585, 586, 589/BLDS. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường cho bị hại Từ Văn D2 số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng); trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H số tiền 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng).
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48/BLHS; Điều 106/BLTTHS: Trả lại cho bị hại Từ Văn D2 chiếc điện thoại đã bị lấy trộm; Đối với 01 bao thóc của ông Ma Văn K, đã trả lại nên không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tại cáo trạng và bản luận tội, không tự bào chữa, không tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Vắng mặt các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, tuy nhiên những người này đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt đúng quy định, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường, với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở xác định:
Ngày 16/5/2020, tại thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung J7, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 3.945.000đ (Ba triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) và số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng) là tài sản của anh Từ Văn D2.
Ngày 06/12/2023 tại thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (Một) bao thóc trị giá 335.000đ (Ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng) là tài sản của ông Ma Văn K.
Tổng giá trị tài sản Hoàng Văn T trộm cắp được là 4.787.000đ (Bốn triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Lần trộm cắp tài sản thực hiện vào ngày 06/12/2023 tuy có giá trị chưa đến 2.000.000đ (Hai triệu đồng) nhưng trước đó, vào ngày 31/10/2023 bị cáo bị Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (cũ) phạt tiền 2.250.000đ (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chưa thi hành, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS.
Đối với số tiền anh Từ Văn D2 khai để trong ốp điện thoại là 2.007.000đ (Hai triệu không trăm linh bảy nghìn đồng): Quá trình điều tra, Hoàng Văn T khai nhận số tiền để trong ốp điện thoại chỉ có 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng) và T đã lấy chi tiêu cho mục đích cá nhân hết; anh D2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ xác thực số tiền như bản thân đã khai, ngoài ra tại đơn xin xét xử vắng mặt trong giai đoạn xét xử, anh D2 chỉ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng), do đó xác định chỉ xử lý trách nhiệm đối với bị cáo đối với số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự với lỗi cố ý đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện nhiều lần, do đó mức hình phạt đối với bị cáo cần nghiêm minh nhằm phòng ngừa tội phạm chung.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 173 có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
… …
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tội phạm Hoàng Văn T thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên cũng gây ảnh hưởng xấu đến việc đảm bảo an ninh trật tự cũng như việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
- Bị cáo có nhân thân xấu: Từ năm 2013 đến nay đã bị Tòa án và các cơ quan quản lý Nhà nước xử phạt nhiều lần về các hành vi vi phạm pháp luật trong đó phần lớn là về hành vi trộm cắp tài sản (Cụ thể: 03 lần bị truy cứu trách nhiệm hình sự và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính), bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân và sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho thấy bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, không có tinh thần thượng tôn pháp luật.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52/BLHS
. Về hình phạt:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy:
Về hình phạt chính: Cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét thấy bị cáo là lao động tự do, gia đình thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp đầy đủ lời khai, các thông tin liên quan và ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án theo quy định.
Bị hại Từ Văn D2 yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng). Ngoài ra không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Bị hại Ma Văn K đã nhận lại bao thóc bị mất trộm nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn H yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) ông H đã bỏ ra để mua bao thóc với Hoàng Văn T. Ngoài ra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Xét những yêu cầu, ý kiến nêu trên là có căn cứ, cần được chấp nhận.
. Về vật chứng:
Gồm có:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung J7, màu đen, đã qua sử dụng. Cần trả lại cho anh Từ Văn D2 theo quy định.
- 01 (Một) bao thóc, loại bao thai, khối lượng 37kg, C1 đã trả lại cho ông Ma Văn K tại giai đoạn điều tra. HĐXX xét thấy là phù hợp.
- Đối với số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng), sau khi lấy trộm Thậm đã chi tiêu cá nhân hết, CQCSĐT không thu giữ được nên không xử lý, HĐXX xét thấy là phù hợp.
. Về vấn đề khác:
- Đối với 02 (Hai) chiếc xe mô tô Thậm dùng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản vào ngày 16/5/2020 và 06/12/2023, theo lời trình bày của bị cáo thì 02 (Hai) chiếc xe trên bị cáo đều mượn của em dâu là Hoàng Thị T1, sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo không nói cho chị T1 được biết việc mượn xe là để đi trộm cắp, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã trả lại cho T1. Qua xác minh làm việc với người nhà bị cáo xác định, chị Hoàng Thị T1 đã xuất khẩu lao động sang Đài Loan, trước khi đi chị T1 đã bán 02 (Hai) chiếc xe trên, người nhà không rõ đặc điểm, BKS đối với 02 (Hai) chiếc xe, do đó CQCSĐT không có căn cứ xác minh làm rõ, HĐXX xét thấy là phù hợp.
- Đối với Hoàng Văn H, sinh năm 1974, trú tại thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên là người đã mua bao thóc mà bị cáo trộm cắp được, quá trình điều tra xác định được H không biết nguồn gốc bao thóc là do Thậm trộm cắp mà có, do đó CQCSĐT không xem xét xử lý đối với Hoàng Văn H, HĐXX xét thấy là phù hợp.
. Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:
Xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38, 47, 48, 50, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Điều 106; 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 584; 585; 586; 589/BLDS; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/12/2025.
. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Từ Văn D2, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên số tiền 507.000đ (Năm trăm linh bảy nghìn đồng).
Buộc bị cáo phải bồi hoàn cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên số tiền 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng).
Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357/BLDS.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị hại anh Từ Văn D2, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn N, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu đen, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và có dòng chữ “đây là chiếc điện thoại mà tôi đã lấy của anh từ văn Dục trú tại thôn N, xã Đ, B, Bắc Kạn Thậm Hoàng Văn T”.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 11/02/2026 giữa Công an tỉnh T với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thái Nguyên).
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Xuân Tựu
Bế Thị Thu Trang
Nguyễn Thị Thùy Linh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND khu vực 9 - Thái Nguyên;
- CQCSĐT CAT Thái Nguyên;
- Phòng Hồ sơ CAT Thái Nguyên;
- Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Thái Nguyên;
- Công an xã Đồng Phúc;
- Phòng THADS KV9 - Thái Nguyên;
- THAHS;
Nguyễn Thị Thùy Linh
- Bị cáo;
- Bị hại;
- NCQLNVLQ;
- Lưu HSVA; Văn thư.
Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) –––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
––––––
TÒA ÁN(1).........................
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
–––––––––––––––
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số:...../.....(2)/HS-ST
––––––––––––––––––––––––––––––– Ngày.....-.....-................... (3)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN........................................ (4)
(5)
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (Bà)
Thẩm phán: Ông (Bà)
Các Hội thẩm nhân dân (quân nhân):
Ông (Bà)
Ông (Bà)
Ông (Bà)
- Thư ký phiên tòa: Ông (Bà)…………………………………………. (6)
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân(7)........................tham gia phiên tòa:
Ông (Bà).......................................... - Kiểm sát viên.
Trong các ngày..... tháng..... năm....... (8) tại…………………………….(9)
xét xử sơ thẩm công khai(10) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:…/…/TLST-HS ngày…tháng…năm…theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:…/…/QĐXXST-HS ngày…tháng…năm… đối với bị cáo (các bị cáo):
(11)
............................sinh ngày.....tháng..... năm.....tại
Nơi cư trú..........................; nghề nghiệp.......................; trình độ văn hoá (học vấn)..........; dân tộc:……….; giới tính:……..; tôn giáo:……..; quốc tịch:…….; con ông.................và bà................; có vợ (chồng) và.......con; (12)tiền án.........,tiền sự.......; nhân thân…….; bị bắt, tạm giam ngày(13).................
(14)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
Ông (Bà)..................sinh năm (hoặc tuổi)............; nơi cư trú................, nghề nghiệp............................ là(15).......................................................................
- Người bào chữa cho bị cáo:(16) ... ………………………………………………………………………………..
- Bị hại:(17) ………………………………………………………………………………..
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:(18) ………………………………………………………………………………..
- Nguyên đơn dân sự:(19) ………………………………………………………………………………..
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự:(20) ………………………………………………………………………………..
- Bị đơn dân sự:(21) ………………………………………………………………………………..
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự:(22) ………………………………………………………………………………..
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:(23) ………………………………………………………………………………..
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:(24) ... ………………………………………………………………………………..
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (nguyên đơn dân sự,........):(25)……………………………………………………………………... ………………………………………………………………………………..
- Người tham gia tố tụng khác:(26)………………………………………
………………………………………………………………………………..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:(27)
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: (28)
…………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………………. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào(29)…………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………... (30)
... ... (31)
... …………………………………………………………………………………… …...
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn L (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H2 bào chữa cho Nguyễn Văn C2); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội L2 bào chữa cho Nguyễn Văn D3); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |