- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HS-ST Ngày: 03 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Dần.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Ơn; Bà Trịnh Thị Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 03/02/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2026/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Văn H, tên gọi khác: không sinh ngày 04 tháng 08 năm 1993 tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ; căn cước công dân số: 017093001317, cấp ngày 01/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC và TTXH Bộ Công an; nơi cư trú: xóm T 2, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn H, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự - Ngày 08/12/2023, bị TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh Phú Thọ) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định số 93/QĐ -TA) với thời hạn 20 tháng. Đến ngày 22/6/2025 chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Chưa được xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2025 tại Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Quách Công T, sinh năm 1994. Địa chỉ: xóm N, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
+ Anh Bùi Đức C, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu V, xã T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
+ Anh Bùi Đức N, sinh năm 1991. Địa chỉ: xóm R, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/10/2023, Bùi Văn H chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh hoà Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh Phú Thọ), đến ngày 22/6/2025 Bùi Văn H chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và trở về địa phương. Ngày 10/7/2025 Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 17/QĐ-UBND đối với Bùi Văn H với thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày 10/7/2025 đến ngày 10/07/2027. Ngày 05/11/2025 Bùi Văn H đã đến khu vực xã Phú Nghĩa, thành phố Hà Nội mua được 01 (một) gói ma tuý với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết, rồi Bùi Văn H sử dụng hết số ma tuý trên tại khu vực ven đường vắng người gần đó bằng hình thức chích ma túy trực tiếp vào cơ thể. Đến ngày 06/11/2025, khi Bùi Văn H đang ở nhà thì bị Công an xã Đ, tỉnh Phú Thọ mời lên trụ sở để tiến hành xét nghiệm ma tuý bằng que test nhanh nước tiểu, kết quả mẫu nước tiểu của Bùi Văn H dương tính với chất ma túy MOP (Heroine). Cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu và niêm phong mẫu nước tiểu của Bùi Văn H để trưng cầu giám định theo quy định của Pháp luật.
Tại kết luận giám định số 3199/KL-KTHS ngày 08/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong chất lỏng màu vàng của mẫu ghi Mẫu nước tiểu của Bùi Văn H, sinh ngày 04/8/1993, Nơi đăng ký HKTT: Xóm Tưa 2, xã Đ, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định tìm thấy chất ma tuý loại, Morphine.
* Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine (Herone) trong cơ thể con người.
* Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Heroine (Heroin): Số thứ tự số 09, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ..”
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa và có dán giấy niêm phong có dấu, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Bùi Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 08/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện Kiểm sát trình bày bản luận tội. Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Văn H từ 24 đến 30 tháng tù.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn H, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vật chứng của vụ án: cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu giám định nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn H có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản thu mẫu giám định; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 3199/KL-KTHS ngày 08/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ; Lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở khẳng định: Bùi Văn H là người nghiện ma túy, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng ngày 04/11/2025, Bùi Văn H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận thành phố Hà Nội. Đến ngày 06/11/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Phú Thọ tiến hành test chất ma túy trong nước tiểu của Bùi Văn H, kết quả trong nước tiểu của Bùi Văn H dương tính với ma túy. Kết quả giám định kết luận trong mẫu nước tiểu của Bùi Văn H tìm thấy chất ma tuý, loại Morphine. Ngày 22/10/2023, Bùi Văn H bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ) ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ; Bùi Văn H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn H phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và tạo tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh tình hình tội phạm ma túy ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, Nhà nước ta đã và đang triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây nghiện làm hại cho sức khỏe, làm suy thoái đạo đức con người, tàn phá kinh tế gia đình, bị cáo nhận thức được những quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra.
. Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án.
Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 22/10/2023, Bùi Văn H bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh Phú Thọ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trình độ học vấn thấp nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về mức hình phạt: Mặc dù bị cáo Bùi Văn H đã từng phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ được ma túy. Điều này cho thấy bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện, không có trách nhiệm với chính sức khỏe của bản thân; ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường quy định của Nhà nước về phòng, chống ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và để bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Văn H tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu giám định nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 08/11/2025.
3. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/NQ-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an tỉnh Phú Thọ (PV06); - THADS tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 15 - Phú Thọ; - Công an xã Đ, tỉnh Phú Thọ; - UBND xã Đ, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lò Văn Dần |