- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lường Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2026. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lĩnh.
Ông Vì Văn Đạo.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Q diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2026 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Bản N, xã D, tỉnh Sơn La – Vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn Q, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Bản B, xã TH, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 10/12/2025 nguyên đơn chị Lường Thị H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn Q kết hôn với nhau ngày 23 tháng 5 năm 2013 có đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Hua Păng, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã D, tỉnh Sơn La). Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 9 năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Hai anh, chị đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Lường Thị H làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn Q.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Lường Thị H xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Tại bản tự khai đề ngày 13/3/2026 bị đơn anh Lò Văn Q trình bày như sau:
Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh hoàn toàn nhất trí như ý kiến của chị Lường Thị H trình bày. Vợ chồng anh chị kết hôn với nhau ngày 23/5/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã HP, huyện MC, tỉnh Sơn La (nay là xã D, tỉnh Sơn La). Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn đến năm 2016 thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không thể hàn gắn được, không có con chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Chị Lường Thị H có đơn đề nghị xin ly hôn với anh, ý kiến của anh Lò Văn Q là nhất trí ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La như sau:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Chị Lường Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà.
Đối với bị đơn có bản tự khai, sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng cố tình vắng mặt. Do đó Toà án áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 56, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn với anh Lò Văn Q.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lường Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Lường Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Lò Văn Q. Anh Lò Văn Q có địa chỉ cư trú tại bản B, xã TH, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La.
Nguyên đơn chị Lường Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn Anh Lò Văn Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lò Văn Q đã cố tình trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Toà án. Toà án đã tiến hành xác minh với chính quyền địa phương và gia đình anh Lò Văn Q về việc tống đạt văn bản tố tụng của Toà án đối với anh Lò Văn Q. Gia đình và chính quyền địa phương xác nhận có nhận được các văn bản tổ tụng của Toà án, đã thông báo, giải thích, động viên, thuyết phục để anh Lò Văn Q chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Anh Lò Văn Q biết chị Lường Thị H khởi kiện ly hôn nhưng cố tình không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Chứng tỏ anh Lò Văn Q đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị H và anh Lò Văn Q kết hôn với nhau ngày 23 tháng 5 năm 2013 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Hua Păng, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La ( nay là xã D, tỉnh Sơn La). Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã D, tỉnh Sơn La. Do đó quan hệ hôn nhân của chị Lường Thị H và anh Lò Văn Q là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 9 năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên khuyên ngăn, hoà giải nhưng không có kết quả, hai anh, chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lường Thị H và anh Lò Văn Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Lò Văn Q.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lường Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lường Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Lò Văn Q.
2. Về tài sản chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lường Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số: BLTU/26E/0000009 ngày 06 tháng 01 năm 2026.
6. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Phòng THADS khu vực 5 – Sơn La; - UBND xã D, tỉnh Sơn La (để vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Đức |