- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị S - Lâm Chí H - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HNGĐ-ST Ngày: 21-01-2026 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Rot Tha; bà Vanh Si Tha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân khu vực 14 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 149/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 471/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 537/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số nhà A, tổ D, ấp V, xã B, tỉnh An Giang, (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Ông Lâm Chí H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ A, ấp N, xã B, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày: Vào năm 2009, do tự tìm hiểu nhau nên bà S và ông H đi đến xác lập quan hệ vợ chồng; có tổ chức lễ cưới và sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang vào ngày 19 tháng 12 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại ấp N, xã B, tỉnh An Giang. Vài tháng đầu hôn nhân vợ chồng khá hạnh phúc. Tuy nhiên chỉ một thời gian ngắn bà S và ông H bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã nhau thường xuyên. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông H chỉ biết tụ tập bạn bè ăn nhậu, lười lao động, không quan tâm, chia sẻ cuộc sống gia đình, khi say sỉn về kiếm chuyện gây với bà S, bà S nhiều lần nhịn nhục thì ông H càng lấn tới, bà S cũng nhiều lần định ly hôn nhưng suy nghĩ lại để cho ông H thay đổi nhưng ông H vẫn không thay đổi. Nhận thấy không thể hòa hợp trong đời sống hôn nhân nên sau khi con lớn được 02 (hai) tuổi thì vào đầu năm 2014 bà S và ông H bắt đầu ly thân, bà S đem con về nhà cha mẹ ruột ở ấp V, xã B nuôi dưỡng cho đến nay. Từ năm 2014 cho đến nay bà S tự nuôi con, tự lo cho cuộc sống, anh H không quan tâm, hỏi han đến mẹ con bà S. Nay bà S đã suy nghĩ kỹ và nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, không thể tiếp tục đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà S yêu cầu được ly hôn với ông H. Quá trình chung sống, bà S và ông H có 01 (một) con chung tên Lâm Chí T, sinh ngày 15/11/2011, hiện tại cháu T đang sinh sống với bà S. Khi ly hôn bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Lâm Chí H đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lâm Chí H đã được Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị S và ông Lâm Chí H.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Lâm Chí H có đăng ký thường trú tại ấp N, xã B, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15, ngày 25 tháng 6 năm 2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T (nay là xã B, tỉnh An Giang) vào ngày 19 tháng 12 năm 2011 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn trong quá trình chung sống thường xuyên bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc, vào đầu năm 2014 bà S và ông H bắt đầu ly thân, bà S đem con về nhà cha mẹ ruột ở ấp V, xã B nuôi dưỡng cho đến nay theo như bà S trình bày. Bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, trong đó có thông báo về phiên hòa giải nhưng bị đơn vẫn không đến Tòa án tham dự. Từ đó cho thấy bị đơn không có thiện chí trong việc hoà giải đoàn tụ nên việc hàn gắn tình cảm cùng nhau xây dựng gia đình là không thể thực hiện được. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị S và ông Lâm Chí H có 01 (một) con chung tên Lâm Chí T, sinh ngày 15/11/2011. Từ khi ly thân con do bà S nuôi dưỡng và bà S yêu cầu tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, nên giao con cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của con chung. Bà Nguyễn Thị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị S khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Lâm Chí H không phải chịu án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật số 85/2025/QH15, ngày 25 tháng 6 năm 2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP, ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Lâm Chí H.
[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên 01 (một) con chung tên Lâm Chí T, sinh ngày 15/11/2011. Ông Lâm Chí H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lâm Chí H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số: 0003274 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, bà Nguyễn Thị S đã nộp đủ án phí, ông Lâm Chí H không phải chịu án phí.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 14 – An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 14 – An Giang; - UBND xã Ba Chúc; - Các đương sư; - Lưu HS & VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |