- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thao Hồng H - Lò Khăm T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Thao Hồng H được ly hôn anh Lò Khăm T.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HNGĐ- ST Ngày 22/04/2026 “V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hào và bà Phan Thị Mấy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Thanh Hóa;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên;
Vào ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2026/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 03 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2026/QĐST-HNGĐ ngày 09/04/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thao Hồng H - Sinh năm: 2003
CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục C về TTXH cấp ngày 18/4/2021.
HKTT: Bản Poọng 2, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14/04/2026).
- Bị đơn: Anh Lò Khăm T - Sinh năm: 1998
Số CCCD xxxxxxxxxxxx do Cục C về TTXH cấp ngày 12/7/2021.
HKTT: Bản Poọng 2, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/04/2026).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Thao Hồng H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lò K T kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng kí kết hôn vào ngày 20/4/2022 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá). Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại Bản P, xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là Bản P, xã H, tỉnh Thanh Hóa) đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lò Khăm T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên là Lò Thao Mỹ T1 – Sinh ngày 18/7/2020 và cháu Lò Kim N – Sinh ngày 28/9/2022. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng giao cháu T1 và cháu N cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Về phần cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 04/3/2026, bị đơn anh Lò Khăm T trình bày:
Anh và chị Thao Hồng H kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng kí kết hôn tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá) vào ngày 20/4/2022. Vợ chồng về chung sống tại Bản P, xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Tuy hai bên gia đình và chính quyền địa phương đã nhiều lần dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2025. Anh nhận thấy việc vợ chồng mâu thuẫn chỉ là vấn đề nhỏ nhặt nên anh không đồng ý yêu cầu ly hôn của chị H.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên là Lò Thao Mỹ T1 – Sinh ngày 18/7/2020 và cháu Lò Kim N – Sinh ngày 28/9/2022. Trường hợp vợ chồng không thể hàn gắn với nhau, anh T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 và cháu N cho đến khi các cháu đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Về phần cấp dưỡng nuôi con chung anh T không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Anh T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Thao Hồng H đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh T2 không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T2. Chị H và anh T2 đã có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ điều 227, điều 228 và điều 238 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T2.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị H được ly hôn anh T2. Về con chung: Giao cháu Lò Thao Mỹ T1 – Sinh ngày 18/7/2020 và cháu Lò Kim N – Sinh ngày 28/9/2022 cho anh T2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Về phần cấp dưỡng nuôi con chung, chị H và anh T2 không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét. Về tài sản và công nợ chung: Chị H và anh T2 không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị H phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Thao Hồng H và anh Lò K T2 đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, đăng kí kết hôn vào ngày 20/4/2022 tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá) và không vi phạm điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình chung sống đến đầu năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Vì thế vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, mỗi người sống ở một nơi. Việc này đã được các bên đương sự, Trưởng bản Pọong 2 và chính quyền địa phương xác nhận, phù hợp với tình hình hoàn cảnh thực tế. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị T3 Hồng Hoa được ly hôn anh Lò Khăm T để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên là Lò Thao Mỹ T1 – Sinh ngày 18/7/2020 và cháu Lò Kim N – Sinh ngày 28/9/2022, hiện cháu T3 và cháu T1 đang ở cùng anh T và ông bà nội. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng giao cháu T1 và cháu N cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh T2 cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu T1 và cháu N trong trường hợp hai vợ chồng không thể hàn gắn với nhau. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H và anh T2, giao cháu T1 và cháu N cho anh T2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, nguyện vọng của các bên và các quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, chị H1 và anh T2 không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về tài sản và công nợ: Chị H và anh T2 không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí hôn nhân – gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điểu 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Thao Hồng H được ly hôn anh Lò Khăm T.
Về con chung: Giao con chung là cháu Lò Thao Mỹ T1 – Sinh ngày 18/7/2020 và cháu Lò Kim N – Sinh ngày 28/9/2022 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên.
Chị Thao Hồng H có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Án phí: Chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/26E/0001474 ngày 03/03/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã thi hành xong khoản án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị H và anh T. Chị Thao Hồng H và anh Lò K T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 13 - Thanh Hóa; - VKSND T.Thanh Hóa; - TAND T.Thanh Hóa; - THADS T.Thanh Hóa; - UBND X.Hiền Kiệt, T.Thanh Hoá. - Lưu HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Hoàng Văn Hào Phan Thị Mấy | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Hùng |