- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Quốc T bị truy tố về tội vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sử…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| T A ÁN NH N D N THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 16 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NH N D N THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Dịu - Giáo viên;
2. Bà Phạm Tú Nhi - Hƣu trí (Cử nhân Luật).
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Kim Ngân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại Hội trƣờng A, Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 438/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 427/2025/QĐXXST-HS ngày 02/01/2025 đối với bị cáo:
Lại Quốc T, sinh năm 2004, tại tỉnh Đắk Lắk; thƣờng trú: Thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; tạm trú: Số A, tổ A, khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Lại Quốc T1, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; bị cáo có 02 anh, em ruột. Lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2008; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có đơn xin giải quyết vắng mặt
- Bị hại: Ông Võ Chí D, sinh năm 1985 (đã chết).
Ng i đại di n h p pháp của bị hại:
+ Ông Võ Văn T2, sinh năm 1963 và bà Quách Thị C, sinh năm 1964; cùng thƣờng trú: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu là cha, mẹ bị hại. Vắng mặt
+ Cháu Võ Lê Uy L, sinh ngày 22/12/2014; thƣờng trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An (là con của bị hại). Ngƣời đại diện hợp pháp là chị Lê Thị Trúc N, sinh năm 1991; thƣờng trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An (là mẹ của cháu L). Vắng mặt
- Ng i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Công ty TNHH G, địa chỉ: I đƣờng S, phƣờng T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh;
Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Lê Quang T3, sinh năm 1990; thƣờng trú: số C đƣờng E, khu dân cƣ V, khu phố B, phƣờng P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, là ngƣời đại diện theo pháp luật. Vắng mặt
+ Công ty TNHH T6, địa chỉ: số E đƣờng số B C, phƣờng A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh;
Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1997; thƣờng trú: thôn D, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; tạm trú: số 109/20/22 TX33, phƣờng T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, là ngƣời đại diện theo ủy quyền. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1978; thƣờng trú: số A N, khu phố L, phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Vắng mặt
+ Ông Trƣơng Văn P, sinh năm 1986; thƣờng trú: xóm X, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
+ Ông Phạm Văn D1, sinh năm 1989; thƣờng trú: xóm C, thôn C, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt
+ Ông Nguyễn Hùng P1, sinh năm 1985; thƣờng trú: số B, tổ A khu phố B, phƣờng A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
- Ng i làm chứng: Trần D2, sinh năm 2007. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Lại Quốc T là sinh viên trƣờng Cao Đẳng B, đang làm thực tế về sửa chữa xe ô tô cho một ngƣời tên T5 (thợ sửa xe cho các bãi xe container trên địa bàn D và khu vực lân cận).
Khoảng 11 giờ 50 ngày 05/5/2024, Lại Quốc T đi cùng Trần D2, để phụ sửa chữa xe ô tô đầu kéo biển số 51D – 625.70 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42, do anh Trƣơng Văn P điều khiển, đang bị hƣ hỏng đỗ trên làn đƣờng xe mô tô thuộc đƣờng M - T, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Trong quá trình sửa chữa xe ô tô, Lại Quốc T mở cửa xe bên trái để vào cabin thử máy. Do cẩu thả, không chú ý quan sát nên khi vừa mở cửa, cùng lúc này anh Nguyễn Hùng P1 điều khiển xe mô tô biển số 60B1-619.45, chở theo hai thùng hàng máy lạnh hiệu Daikin và anh Võ Chí D, ngồi phía sau, lƣu thông trên đƣờng M - Tân Vạn hƣớng từ A đi Quốc Lộ A, chạy tới, làm thùng máy lạnh chở trên xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 va chạm vào cánh cửa bên trái của xe ô tô đầu kéo biển số 51D – 625.70 làm anh Võ Chí D và xe mô tô ngã văng ra ngoài và bị hàng bánh sau bên phải của sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85 đƣợc kéo bởi xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21, do anh Phạm Văn D1 điều khiển lƣu thông cùng chiều trên làn đƣờng xe ô tô (bên ngoài làn xe mô tô) cán qua ngƣời làm anh Võ Chí D chết tại hiện trƣờng.
* Tại Biên bản khám nghi m hi n tr ng ngày 05/5/2024, thể hi n:
+ Đoạn đƣờng nơi xảy ra tai nạn là đƣờng đƣờng M - T, mặt đƣờng rải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách cố định phân chia hai phần đƣờng xe chạy riêng biệt, phần đƣờng H đi Quốc Lộ A đƣợc phân chia ba làn đƣờng xe chạy bằng vạch sơn (có bảng hiệu phân chia làn đƣờng cách hiện trƣờng tai nạn là 37m00), làn đƣờng xe hai bánh rộng 3m60; làn đƣờng hỗn hợp rộng 3m80 và làn đƣờng dành cho xe du lịch rộng 4m20.
+ Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:
- Xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Nạn nhân chết tại hiện trƣờng (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Vết máu nạn nhân (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Mũ bảo hiểm (ký hiệu 4 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Dép nạn nhân (ký hiệu 5, 6 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Thùng carton máy lạnh Daikin (ký hiệu 7 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Thùng carton máy lạnh Daikin (ký hiệu 8 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21/51R – 215.85 (ký hiệu 9 trên sơ đồ hiện trƣờng)
- Trụ biển báo hiệu phân chia làn đƣờng (ký hiệu 10 trên sơ đồ hiện trƣờng)
+ Xác định điểm mốc và một trong các mép đƣờng nơi xảy ra tai nạn làm mép chuẩn: Lấy trụ biển báo hiệu phân chia làn đƣờng (ký hiệu 10 trên sơ đồ hiện trƣờng) làm điểm mốc và mép lề bên phải của đƣờng M - T theo hƣớng A đi Quốc Lộ A làm mép chuẩn.
+ Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:
- Xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trƣờng) nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe quay về hƣớng Quốc Lộ A, trục bánh trƣớc cách mép chuẩn là 2m35, trục bánh sau cách mép chuẩn là 3m00.
- Nạn nhân chết tại hiện trƣờng (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trƣờng) nằm ngửa đầu quay về hƣớng A, đầu nạn nhân cách mép chuẩn là 3m10 và cách trục bánh trƣớc xe mô tô là 3m00, chân phải nạn nhân cách mép chuẩn là 3m20, chân trái cách mép chuẩn là 3m50. Vết máu nạn nhân (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trƣờng) kt 90x40cm, tâm vết máu cách mép chuẩn là 4m30 và cách đầu nạn nhân là 1m40. Mũ bảo hiểm nạn nhân (ký hiệu 4 trên sơ đồ hiện trƣờng) cách mép chuẩn là 2m90 và cách trục bánh trƣớc xe mô tô là 2m40.
- Chiếc dép nạn nhân (ký hiệu 5 trên sơ đồ hiện trƣờng) cách mép chuẩn là 2m30 và cách mũ bảo hiểm là 6m10; Chiếc dép nạn nhân (ký hiệu 6 trên sơ đồ hiện trƣờng) cách mép chuẩn là 2m50 và cách trục trƣớc xe mô tô là 0m70.
- Thùng carton máy lạnh D3 (ký hiệu 7 trên sơ đồ hiện trƣờng) kích thƣớc (dài x rộng x cao) là 80 x 36 x 60cm. T4 của thùng cách mép chuẩn là 4m30 và cách trục bánh trƣớc xe mô tô là 2m30.
- Thùng carton máy lạnh D3 (ký hiệu 8 trên sơ đồ hiện trƣờng) kích thƣớc (dài x rộng x cao) là 80 x 33 x 35cm. T4 của thùng cách mép chuẩn là 4m40 và cách trục bánh sau xe mô tô là 7m20.
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R – 215.85 (ký hiệu 9 trên sơ đồ hiện trƣờng) sau tai nạn xe dừng trên làn đƣờng dành cho xe hai bánh, đầu xe quay về hƣớng Quốc Lộ A, trục bánh trƣớc bên phải cách mép chuẩn là 0m50, trục bánh giữa bên phải cách mép chuẩn là 0m40, trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 0m30. Trục bánh sau bên trái sơ mi rơ mooc cách trục bánh trƣớc xe mô tô là 64m40.
- Trục bánh sau xe mô tô cách điểm mốc Trụ biển báo hiệu phân chia làn đƣờng (ký hiệu 10 trên sơ đồ hiện trƣờng) là 37m00.
* Tại Biên bản dựng lại hi n tr ng ngày 12/11/2024, thể hi n:
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51D – 625.70 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trƣờng) dừng ở làn đƣờng dành cho xe hai bánh, đầu xe quay về hƣớng Quốc Lộ A, trục bánh trƣớc bên phải cách mép chuẩn là 0m40, trục bánh giữa bên phải cách mép chuẩn là 0m50, trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 0m60 và cách trụ biển báo giao thông (ký hiệu 4 trên sơ đồ hiện trƣờng) là 7m90.
- Xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trƣờng) do anh Nguyễn Hùng P1 điều khiển phía sau chở hai thùng máy lạnh chồng lên nhau (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trƣờng) ở giữa và chở anh Võ Chí D ngồi sau ôm hai thùng máy lạnh, phần bên phải thùng máy lạnh va chạm vào cánh cửa bên trái của xe ô tô đầu kéo biển số 51D – 625.70 khi bị cáo Lại Quốc T đang mở cửa để bƣớc vào cabin xe khi trục bánh trƣớc và bánh sau xe mô tô cách mép chuẩn là 3m50.
* Kết luận giám định tử thi số 2199/KLGĐTT-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Kết quả chính:
+ Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài.
+ Vỡ xƣơng sọ, sàn sọ, hố sọ trƣớc và hai bên.
+ Xuất huyết não, dập rách não vùng trán hai bên.
+ Gãy nhiều xƣơng sƣờn.
+ Dập rách hai phổi. Dập đứt khí quản, thực quản.
+ Dập đứt cuống tim. Dập, vỡ gan.
+ Khoang màng phổi hai bên chứa nhiều máu.
- Nguyên nhân chết của Võ Chí D: Do đa chấn thƣơng.
* Kết luận giám định số 2665/KL-KTHS (CH) ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết in hằn, rách giấy va bám dính chất màu xám ở mặt ngoài vỏ thùng máy lạnh (vị trí ngay trên tem mã vạch và mã số “FTKB35YV” khi thùng máy lạnh đƣợc đặt trên 01 (một) thùng máy lạnh có kích thƣớc (82 x 80 x 37)cm và đặt trên yên xe mô tô 60B1 – 619.45) dấu vết này có chiều từ bên ngoài vào bên trong lòng thùng, từ giữa ra cạnh ngoài phù hợp với dấu vết trƣợt xƣớc sơn lót màu xanh, mất bụi và cong biến dạng kim loại ở mặt trong góc dƣới bên ngoài cánh cửa bên trái ca bin xe ô tô đầu kéo biển số 51D – 625.70, các dấu vết này có chiều từ trong ra ngoài, từ sau về trƣớc.
- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa các xe: Xe mô tô biển số 60B1 – 619.45, xe ô tô đầu kéo 51D – 625.70 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42 và xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85.
- Không xác định đƣợc dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 60B1 – 619.45, xe ô tô đầu kéo 51D – 625.70 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42 và xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85 với nạn nhân Võ Chí D.
* Kết luận giám định số 2524/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
Trong mẫu vật ký hiệu A có chứa 03 tập tin video:
-
Tên
tập
tin:
0-02-06-a954cf868b93e75fb959da41dcd0be6d17450dacec05dc4fd11b8f15d34f6704_2257e1a 91fd05120.mp4.
(Mã MD5: D1D77683DE54CD795283BCB1AE8489E9; thời lƣợng: 01 phút 59 giây) đƣợc trích xuất thành 02 khung hình, không phát hiện dấu vết cắt ghép hay chỉnh sửa nội dung.
-
Tên
tập
tin:
0-02-06-d90ffd1bb3567e144488243ecc87b624a37fef68b0c40b598c3e04771ee70bf_44e229f4f 87fc06.mp4.
(Mã MD5: EECF73528F8D3B835CFA0ED7C418022A; thời lƣợng 00 phút 57 giây) đƣợc trích xuất thành 02 khung hình, không phát hiện dấu vết cắt ghép hay chỉnh sửa nội dung.
- Tên tập tin: 5414368250966.mp4.
(Mã MD5: 55CE982348393B3D090DB5B06C4F4E7D; thời lƣợng: 08 phút 31 giây) đƣợc trích xuất thành 02 khung hình, không phát hiện dấu vết cắt ghép hay chỉnh sửa nội dung.
* Kết luận giám định số 2526/KL-KTHS (HPL) ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Khoảng 12 (mƣời hai) ml máu Võ Chí D – sinh năm 1985, đựng trong ống nhựa đƣợc niêm phong gửi đến giám định: Có thành phần E (C). Nồng độ 17,45 mg/100ml.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Phạm Văn D1 và Nguyễn Hùng P1 là 0,000mg/L khí thở.
* Kết quả xét nghiệm thành phần các chất ma túy trong máu của Phạm Văn D1 là (-) âm tính. Kết quả xét nghiệm thành phần các chất ma túy của Nguyễn Hùng P1 là (+) dƣơng tính (Morphin).
* Anh Phạm Văn D1, Nguyễn Hùng P1 và Trƣơng Văn P có giấy phép lái xe theo đúng quy định.
* Kết quả kiểm tra 02 (hai) thùng máy lạnh hiệu Daikin đặt trên yên xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 có chiều cao từ mặt đất lên mặt trên của thùng là 1m75 và chiều rộng của thùng dài ra hai bên yên xe mô tô, mỗi bên ra ngoài yên xe 20cm.
* Vật chứng thu giữ:
+ 01 xe biển số 51C – 590.21 và sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85 của Công ty TNHH G.
+ 01 xe ô tô đầu kéo 51D – 625.70 và sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42 của Công ty TNHH T6.
+ 01 xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 và hai thùng máy lạnh.
Cáo trạng số 21/CT-VKS-DA ngày 13 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lại Quốc T đã phạm tội “Vô ý làm chết ngƣời” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, gia đình bị hại và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận xong về việc bồi thƣờng.
Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lại Quốc T.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH N Đ NH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, ngƣời làm chứng và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Lại Quốc T trong quá trình thực hiện sửa chữa xe đầu kéo, do cẩu thả, thiếu chú ý quan sát nên khi mở cửa bên trái xe ô tô đầu kéo 51D – 625.70 đã làm va vào thùng hàng máy lạnh hiệu Daikin, do anh Nguyễn Hùng P1 điều khiển xe mô tô biển số 60B1-619.45, chở theo hai thùng hàng máy lạnh hiệu Daikin và anh Võ Chí D ngồi sau (lƣu thông theo hƣớng từ A đi Quốc Lộ A) làm cho anh Võ Chí D và xe mô tô ngã văng ra ngoài và bị hàng bánh sau bên phải của sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85 đƣợc kéo bởi xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21, do anh Phạm Văn D1 điều khiển lƣu thông cùng chiều trên làn đƣờng xe ô tô (bên ngoài làn xe mô tô) cán qua ngƣời làm anh Võ Chí D chết tại hiện trƣờng. Hành vi nêu trên của Lại Quốc T đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết ngƣời” quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số: 21/CT-VKS-DA ngày 13 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lại Quốc T phạm tội “Vô ý làm chết ngƣời” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là lỗi vô ý, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ. Về nhận thức, bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhƣng do cẩu thả, thiếu quan sát và chấp hành các quy tắc để đảm bảo an toàn giao thông dẫn đến vô ý gây thiệt hại cho tính mạng của ngƣời khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho gia đình bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cƣ trú ổn định.
[7] Về hình phạt: bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo hiện nay đang đi học tại Trƣờng Cao đẳng B, có nơi cƣ trú rõ ràng. Trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cƣ trú bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nƣớc. Bị cáo có đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao (hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng đủ sức giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi trú số 213/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe biển số 51C – 590.21 và sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85 của Công ty TNHH G; Đối với 01 (một) xe ô tô đầu kéo 51D – 625.70 và sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42 của Công ty TNHH T6; Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 và hai thùng máy lạnh, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
[8] Đối với anh Nguyễn Hùng P1 điều khiển xe mô tô biển số 60B1 – 619.45 lƣu thông trên đƣờng mà trong máu có thành phần chất ma túy, chở hàng vƣợt quá chiều cao cho phép. Lỗi vi phạm hành chính. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chuyển hồ sơ cho Phòng C1 Công an tỉnh B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
[9] Đối với anh Trƣơng Văn P điều khiển xe ô tô đầu kéo 51D – 625.70 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 113.42 khi đỗ xe để sửa, tuy có chiếm một phần đƣờng xe chạy mà không đặt biển báo hiệu cho ngƣời và phƣơng tiện khác biết, đỗ xe hàng bánh bên phải cách mép lề quá 25cm nhƣng lỗi vi phạm hành chính (không là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến anh Võ Chí D chết). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chuyển hồ sơ cho Phòng C1 Công an tỉnh B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
[10] Đối với anh Phạm Văn D1 điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 590.21 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 215.85 lƣu thông đi đúng phần đƣờng, làn đƣờng quy định không có lỗi gây tai nạn giao thông; anh Võ Chí D không có lỗi khi xảy ra vụ án.
[11] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo, những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận, thống nhất về việc bồi thƣờng và không có yêu cầu gì thêm nên vấn đề trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
[9] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và trách nhiệm dân sự là phù hợp. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Tuyên bố bị cáo Lại Quốc T phạm tội “Vô ý làm chết ngƣời”.
Áp dụng Điều 65, khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao
Xử phạt bị cáo Lại Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lại Quốc T cho Ủy ban nhân dân ph ng B, thành phố T, tỉnh Bình D ơng giám sát giáo dục trong th i gian thử thách. Trong tr ng h p bị cáo Lại Quốc T thay đổi nơi c trú thì thực hi n theo Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong th i gian thử thách, nếu ng i đ c h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ng i đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi trú số 213/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lại Quốc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 06 CA tỉnh BD; - Phòng PC 10 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A Kiều Thị Uyên |