- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tú A "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,…"
- Tòa quyết gì? đối với bị cáo Nguyễn Thị Tú A.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA -------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 22-7-2025 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Văn Có
ông Đào Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 1 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên
tòa: bà Nguyễn Thị Như Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5
năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2025/QĐXXST-HS ngày 19
tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Tú A - sinh ngày 09/3/1980 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân
khẩu thường trú: thôn Đ - xã Đ - huyện L - Lâm Đồng (nay là thôn Đ - xã N - Lâm
Đồng); Chỗ ở hiện nay: 88 đường T - phường T - thành phố N - Khánh Hòa (nay là
88 đường T - phường Nam N - Khánh Hòa); Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình
độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch:
Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy T (1945) và bà Trần Thị N (1955); Có chồng là
Lê Xuân B (1981) và có ba con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2021;
Tiền sự, tiền án: không; Bị áp dụng tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến hết ngày
25/11/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú; Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thiện Trường K - sinh năm 1962; Có mặt.
Trú tại: tổ 1 thị trấn K - huyện K - Khánh Hòa (nay là tổ 1 - xã K - Khánh
Hòa).
- Vũ Thị H - sinh năm 1960; Có mặt.
Trú tại: tổ 1 thị trấn K - huyện K - Khánh Hòa (nay là tổ 1 - xã K - Khánh
Hòa).
- Phạm Trọng V - sinh năm 1985; Vắng mặt
Trú tại: 138B4 đường 2/4 - phường V - thành phố N - Khánh Hòa (nay là
138B4 đường 2/4 - phường Bắc N - Khánh Hòa).
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Nguyễn Linh C - sinh năm 1970; Vắng mặt.
Lê Xuân D - sinh năm 1981; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/7/2018, Nguyễn Thị Tú A nhận chuyển nhượng nhà, đất tại thửa
đất số 51, tờ bản đồ số 13 và thửa đất số 40, tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ tổ 01 thị trấn K - huyện K - Khánh Hòa (nay là tổ dân phố 1 - xã - Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV187463, số vào sổ CH00445 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 15/01/2015 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA173779, số vào sổ CH00608 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 28/4/2011 từ vợ chồng ông Trần Thiện Trường K và bà Vũ Thị H, giá trị chuyển nhượng 2.000.000.0000 đồng. Việc chuyển nhượng đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K chỉnh lý sang tên chủ sở hữu cho Nguyễn Thị Tú A vào ngày 20/7/2018. Do Nguyễn Thị Tú A chưa thanh toán đủ tiền chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông K, bà H nên hai bên thỏa thuận ông K, bà H giữ 02 giấy chứng nhận trên và khi nào Tú A trả đủ tiền thì sẽ lấy lại.
Đến khoảng tháng 01 năm 2019, Tú A nảy sinh ý định đánh tráo 02 giấy
chứng nhận số BA187463, BA173779 để vay tiền nên đã lên mạng xã hội facebook liên hệ với một đối tượng (chưa rõ lai lịch), đặt làm giả 02 giấy chứng nhận nêu trên với giá 5.000.000 đồng. Đầu tháng 02 năm 2019, Nguyễn Thị Tú A đề nghị ông Trần Thiện Trường K, bà Vũ Thị H đem theo 02 giấy chứng nhận số BA187463, BA173779 đến Ngân hàng N tại địa chỉ số 26 đường N, phường P, thành phố N để làm thủ tục vay ngân hàng. Tại đây, lợi dụng sơ hở của ông K, bà H, Tú A đã tráo đổi 02 giấy chứng nhận BA187463, BA173779 và đưa 02 giấy chứng nhận giả cho ông K, bà H cất giữ, đồng thời thông báo không thực hiện được thủ tục vay tiền ngân hàng.
Đến ngày 22/02/2019, Nguyễn Thị Tú A đã sử dụng giấy chứng nhận số
BA187463, BA173779 (thật) mang cầm thế cho Phạm Trọng V để vay số tiền 1.300.000.000 đồng. Khi cầm thế, giữa A và V đã lập 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với 02 thửa đất. Do A vi phạm thời hạn thanh toán nên V đã thực hiện việc đăng ký thông tin chủ sở hữu tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K đối với 02 thửa đất nói trên thì bị ông K, bà H phát hiện nên làm đơn ngăn chặn và tố cáo A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện K.
Tại Kết luận giám định số 554/GĐTP/2019 ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ
thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: 02 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA187463,
BA173779 (ký hiệu A1, A2) là giả.
- Đồ vật, tài liệu bị thu giữ trong vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giả) số BA173779;
01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất (giả) số BA187463; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thật) số BA173779; 01 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thật)
số BA187463 (đã đưa vào hồ sơ vụ án).
Bản cáo trạng số 146/CT-VKSNT ngày 10/5/2024, VKSND thành phố N
truy tố Nguyễn Thị Tú A về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo
khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh
Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341;
điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A từ 15 tháng tù
đến 18 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về trách nhiệm
dân sự và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên,
hồ sơ thể hiện rõ lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, đủ cơ sở để xác định đầu năm 2019, do cần tiền để tiêu dùng riêng
nên Tú A đã nảy sinh ý định hoán đổi hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA187463, BA173779 (thật)
do ông Trần Thiện Trường K, bà Vũ Thị H cất giữ. Do đó, Tú A đã lên mạng xã
hội và nhờ người làm giả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA187463, BA173779 (giả) nhằm mục
đích cầm thế cho ông Phạm Trường V để có tiền sử dụng vào mục đích cá nhân.
Hành vi này của bị cáo đã có dấu hiệu của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tuy
nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa chỉ khởi tố và Viện kiểm
sát nhân dân thành phố N (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa) chỉ truy tố bị cáo về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" là chưa được chính xác.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình
hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính Nhà nước và sự hoạt động bình thường của các cơ quan tổ chức. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo mà xử phạt bị cáo mức hình phạt tù bằng với thời hạn bị cáo đã bị tạm giam.
[5] Đối với ông Trần Thiện Trường K và bà Vũ Thị H: tại phiên tòa hôm
nay, ông bà không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với ông Phạm Trọng V: Tại phiên tòa hôm nay, ông V vắng mặt nên
tách phần trách nhiệm dân sự giữa ông V và bị cáo A thành vụ kiện dân sự khác khi ông V có yêu cầu.
[7] Kiến nghị: đối với hành vi dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giả) để đổi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thật) do ông K, bà H cất giữ trong khi bị cáo chưa trả hết tiền cho ông K, bà H là có dấu hiệu của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Vì vậy, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa tiếp tục điều tra làm rõ và có cơ sở thì khởi tố theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
đối với bị cáo Nguyễn Thị Tú A.
Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Tú A 01 (một) năm 07 (bảy) ngày tù về tội
“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2023 đến hết ngày 25/11/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Không xét phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo
Nguyễn Thị Tú A với người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan Trần Thiện Trường K và Vũ Thị H.
Tách phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Nguyễn Thị Tú A với người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Trọng V thành vụ kiện dân sự khác khi ông V có yêu cầu.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Thị Tú A nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 1 - Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu THA hình sự, hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Mai Phương |