vanban.org

Bản án 16/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

đối với bị cáo Nguyễn Thị Tú A.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Tú A 01 (một) năm 07 (bảy) ngày tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2023 đến hết ngày 25/11/2024.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tú A "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,…"
  • Tòa quyết gì? đối với bị cáo Nguyễn Thị Tú A.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
--------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày 22-7-2025

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Văn Có

ông Đào Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên

tòa: bà Nguyễn Thị Như Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5

năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2025/QĐXXST-HS ngày 19

tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Tú A - sinh ngày 09/3/1980 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân

khẩu thường trú: thôn Đ - xã Đ - huyện L - Lâm Đồng (nay là thôn Đ - xã N - Lâm

Đồng); Chỗ ở hiện nay: 88 đường T - phường T - thành phố N - Khánh Hòa (nay là

88 đường T - phường Nam N - Khánh Hòa); Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình

độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch:

Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy T (1945) và bà Trần Thị N (1955); Có chồng là

Lê Xuân B (1981) và có ba con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2021;

Tiền sự, tiền án: không; Bị áp dụng tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến hết ngày

25/11/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư

trú; Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Trần Thiện Trường K - sinh năm 1962; Có mặt.

Trú tại: tổ 1 thị trấn K - huyện K - Khánh Hòa (nay là tổ 1 - xã K - Khánh

Hòa).

- Vũ Thị H - sinh năm 1960; Có mặt.

Trú tại: tổ 1 thị trấn K - huyện K - Khánh Hòa (nay là tổ 1 - xã K - Khánh

Hòa).

- Phạm Trọng V - sinh năm 1985; Vắng mặt

Trú tại: 138B4 đường 2/4 - phường V - thành phố N - Khánh Hòa (nay là

138B4 đường 2/4 - phường Bắc N - Khánh Hòa).

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Nguyễn Linh C - sinh năm 1970; Vắng mặt.

Lê Xuân D - sinh năm 1981; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/7/2018, Nguyễn Thị Tú A nhận chuyển nhượng nhà, đất tại thửa

đất số 51, tờ bản đồ số 13 và thửa đất số 40, tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ tổ 01 thị trấn K - huyện K - Khánh Hòa (nay là tổ dân phố 1 - xã - Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV187463, số vào sổ CH00445 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 15/01/2015 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA173779, số vào sổ CH00608 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 28/4/2011 từ vợ chồng ông Trần Thiện Trường K và bà Vũ Thị H, giá trị chuyển nhượng 2.000.000.0000 đồng. Việc chuyển nhượng đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K chỉnh lý sang tên chủ sở hữu cho Nguyễn Thị Tú A vào ngày 20/7/2018. Do Nguyễn Thị Tú A chưa thanh toán đủ tiền chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông K, bà H nên hai bên thỏa thuận ông K, bà H giữ 02 giấy chứng nhận trên và khi nào Tú A trả đủ tiền thì sẽ lấy lại.

Đến khoảng tháng 01 năm 2019, Tú A nảy sinh ý định đánh tráo 02 giấy

chứng nhận số BA187463, BA173779 để vay tiền nên đã lên mạng xã hội facebook liên hệ với một đối tượng (chưa rõ lai lịch), đặt làm giả 02 giấy chứng nhận nêu trên với giá 5.000.000 đồng. Đầu tháng 02 năm 2019, Nguyễn Thị Tú A đề nghị ông Trần Thiện Trường K, bà Vũ Thị H đem theo 02 giấy chứng nhận số BA187463, BA173779 đến Ngân hàng N tại địa chỉ số 26 đường N, phường P, thành phố N để làm thủ tục vay ngân hàng. Tại đây, lợi dụng sơ hở của ông K, bà H, Tú A đã tráo đổi 02 giấy chứng nhận BA187463, BA173779 và đưa 02 giấy chứng nhận giả cho ông K, bà H cất giữ, đồng thời thông báo không thực hiện được thủ tục vay tiền ngân hàng.

Đến ngày 22/02/2019, Nguyễn Thị Tú A đã sử dụng giấy chứng nhận số

BA187463, BA173779 (thật) mang cầm thế cho Phạm Trọng V để vay số tiền 1.300.000.000 đồng. Khi cầm thế, giữa A và V đã lập 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với 02 thửa đất. Do A vi phạm thời hạn thanh toán nên V đã thực hiện việc đăng ký thông tin chủ sở hữu tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện K đối với 02 thửa đất nói trên thì bị ông K, bà H phát hiện nên làm đơn ngăn chặn và tố cáo A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện K.

Tại Kết luận giám định số 554/GĐTP/2019 ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: 02 giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA187463,

BA173779 (ký hiệu A1, A2) là giả.

- Đồ vật, tài liệu bị thu giữ trong vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giả) số BA173779;

01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn

liền với đất (giả) số BA187463; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở

hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thật) số BA173779; 01 giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thật)

số BA187463 (đã đưa vào hồ sơ vụ án).

Bản cáo trạng số 146/CT-VKSNT ngày 10/5/2024, VKSND thành phố N

truy tố Nguyễn Thị Tú A về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo

khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh

Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341;

điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A từ 15 tháng tù

đến 18 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về trách nhiệm

dân sự và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng

theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng

khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên,

hồ sơ thể hiện rõ lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét

xử vắng mặt.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan, đủ cơ sở để xác định đầu năm 2019, do cần tiền để tiêu dùng riêng

nên Tú A đã nảy sinh ý định hoán đổi hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BA187463, BA173779 (thật)

do ông Trần Thiện Trường K, bà Vũ Thị H cất giữ. Do đó, Tú A đã lên mạng xã

hội và nhờ người làm giả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA187463, BA173779 (giả) nhằm mục

đích cầm thế cho ông Phạm Trường V để có tiền sử dụng vào mục đích cá nhân.

Hành vi này của bị cáo đã có dấu hiệu của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tuy

nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa chỉ khởi tố và Viện kiểm

sát nhân dân thành phố N (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa) chỉ truy tố bị cáo về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" là chưa được chính xác.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình

hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính Nhà nước và sự hoạt động bình thường của các cơ quan tổ chức. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo mà xử phạt bị cáo mức hình phạt tù bằng với thời hạn bị cáo đã bị tạm giam.

[5] Đối với ông Trần Thiện Trường K và bà Vũ Thị H: tại phiên tòa hôm

nay, ông bà không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với ông Phạm Trọng V: Tại phiên tòa hôm nay, ông V vắng mặt nên

tách phần trách nhiệm dân sự giữa ông V và bị cáo A thành vụ kiện dân sự khác khi ông V có yêu cầu.

[7] Kiến nghị: đối với hành vi dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giả) để đổi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thật) do ông K, bà H cất giữ trong khi bị cáo chưa trả hết tiền cho ông K, bà H là có dấu hiệu của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Vì vậy, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa tiếp tục điều tra làm rõ và có cơ sở thì khởi tố theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

đối với bị cáo Nguyễn Thị Tú A.

Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Tú A 01 (một) năm 07 (bảy) ngày tù về tội

“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2023 đến hết ngày 25/11/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Không xét phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo

Nguyễn Thị Tú A với người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan Trần Thiện Trường K và Vũ Thị H.

Tách phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Nguyễn Thị Tú A với người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Trọng V thành vụ kiện dân sự khác khi ông V có yêu cầu.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thị Tú A nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình

sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể

từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ