vanban.org

Bản án 16/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Đình C: 3 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày: 25 – 02- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Kịm Cảnh và ông Nguyễn Bá Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên và bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS, ngày 23/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Vũ Đình C – Sinh năm 1989; Số CCCD: 038089045539

Nơi ĐKNKTT: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Đình Q, sinh năm 1964 và bà Lê Thi B, sinh năm 1961; gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ 3.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Năm 2006, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiếu cung cấp thông tin của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn thể hiện: Đến thời điểm hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn chưa nhận được Bản án hình sự số 02/2006/HSST ngày 17/01/2006 nên chưa thụ lý thi hành về phần án phí.

- Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/12/2014 hoàn thành nghĩa vụ án phí HSST, án phí DSST, truy thu; ngày 12/5/2015 hoàn thành bồi thường dân sự, ngày 02/9/2016 chấp hành xong hình phạt tù.

- Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt 40 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 10/02/2020 C hoàn thành nghĩa vụ án phí HSST, ngày 28/7/2022 C chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024 đến ngày 31/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa. có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 22/10/2024, Vũ Đình C sử dụng ứng dụng Facebook tên “Đèn sáng” của mình nhắn tin đến Facebook tên “Huy Hung” của một người không quen biết hỏi mua 1.000.000đ ma túy, loại hồng phiến thì người này đồng ý. C dùng số tài khoản 19072103582018 Ngân hàng T2 mang tên Vũ Đình C chuyển số tiền 1.000.000đ đến số tài khoản 100882517192 Ngân hàng V chủ tài khoản “HA TUAN MINH” thì được người này nhắn tin và gửi hình ảnh nơi để lấy ma túy. Sau đó C đi đến nhà ông Vũ Đình Q là bố đẻ C hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh BKS 36K3 – 3672 đi đến chân cột biển báo ven đường khu vực đỉnh dốc thuộc xã M, huyện T hướng từ Ủy ban nhân dân xã M đi xã T, huyện T thì thấy 01 túi nilong màu hồng có chứa 8 viên hồng phiến để dưới đất. C cầm ma túy và đi đến đoạn cánh đồng thuộc xã H, huyện T sử dụng 06 viên, còn lại 02 viên C bỏ vào túi nilong màu hồng và đem về nhà cất giấu mục đích để bán.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện T đến nhà C ở thôn D, xã H kiểm tra, thấy Công an, C ném gói ma túy lên trên bể cá trước cổng, cách vị trí C đứng khoảng 02m. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ 01 túi nilong màu hồng được dán kín niêm phong trong phong bì thư do bưu điện phát hành, ký hiệu là C1, 01 điện thoại OPPO RENO 8 màu vàng đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh BKS 36K3 – 3672 đã qua sử dụng. Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Đình C tại thôn D, xã H nhưng không thu giữ gì.

Số vật chứng thu được, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại Bản kết luận giám định số 4082/KL-KTHS ngày 29/10/2024 củaPhòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: 02 viên nén màu hồng của phòng bì ký hiệu C1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,198g, loại Methamphetamine.

- 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh xám, BKS:36K3-3672 trả lại cho ông Vũ Đình Q do khi cho C mượn xe, ôngQuang không biết C sử dụng để đi mua ma túy .

- 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnhThanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H, Lê Hữu T1 và các hình dấu củaPhòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, mặt trước phong bì có ký hiệu"Triệu Sơn TC113"; 01 điện thoại OPPO RENO 8 màu trắng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn bảo quản, chờ xử lý.

*Cáo trạng số 17/CT - VKS – TS, ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, truy tố Vũ Đình Cường về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

-Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Hình phạt đối với Vũ Đình C từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2024

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định.

Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động

- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, thống nhất về tội danh, điều luât áp dụng theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Vào hồi 23 giờ ngày 22/10/2024, tại gia đình bị cáo Vũ Đình C, địa chỉ thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Công an huyện T đã bắt quả tang Vũ Đình C đang có hành vi tang trữ 0,198g ma túy loại methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Đình C, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi tàng trữ ma túy với mục đích để bán cho người khác kiếm lời của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ma túy còn là tệ nạn xã hội, hủy hoại con người về thể chất, tinh thần và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Tuy nhận thức được tính nguy hiểm và biết rõ ma túy có tác hại nghiêm trọng trong đời sống xã hội nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, không chịu tu dưỡng, rèn luyện. Do đó cần xử bị cáo mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, bị cáo có mẹ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội 1 thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định

- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO RENO 8 màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh xám, BKS:36K3-3672 của ông Vũ Đình Q. Do khi cho C mượn xe, ôngQuang không biết C sử dụng để đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: C khai được bạn nghiện giới thiệu mua ma túy của một người đàn ông không quen biết, không trực tiếp gặp để mua ma túy nên không biết đặc điểm nhận dạng của người này. Qua xác minh, số tài khoản C chuyền tiền mua ma túy đứng tên anh Hà Tuấn M, có số căn cước công dân 038204014941, ở tố F, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nhưng anh M không sử dụng Facebook tên "Huy Hung", không sử dụng số tài khoản 10882517192 của Ngân hàng V1, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu nào khác chứng minh. Do đó không đủ căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Đình C: 3 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định

- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO RENO 8 màu vàng của bị cáo Vũ Đình C.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 30/VC/2025, ngày 24/2/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn)

- Về án phí: Áp dụng điều 135, 136, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ