vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Thanh T1.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là: Nguyễn Thiện N (giới tính: nam), sinh ngày 07/5/2009 và Nguyễn Thiện N1 (giới tính: nam), sinh ngày 15/01/2012. Giao con chung Nguyễn Thiện N1 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn nuôi con chung - Nguyễn Thị T & Nguyễn Thanh T1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Thanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05-3-2025
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích N

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn B, bà Lê Thị Kiều T

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị M.T, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị T2 - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự về Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 358/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978

Nơi cư trú: thôn X, xã P, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1979

Nơi cư trú: thôn X, xã P, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 16/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông bà tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận vào năm 2008. Sau khi kết hôn bà và ông T1 xảy ra nhiều mâu thuẫn vì bà đi làm Nhà nước phải chấp hành theo giờ giấc quy định còn ông T1 làm nghề tự do, thời gian ông T1 cũng thư thả hơn, bà có cãi cọ lớn tiếng có lúc ông T1 đánh và đập phá đồ đạc trong nhà. Sau này cuộc sống của bà lại nảy sinh nhiều mâu thuẫn có lần ông T1 đánh, buộc bà phải làm đơn ra Công an xã P can thiệp. Ông T1 nói thương vợ con nhưng khi xảy ra va chạm thì ông T1 dùng vũ lực đánh đá bà, ngoài ra ông T1 còn nói gây áp lực về tinh thần. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1. Lần gần đây nhất ngày 10 tháng 10 năm 2024, bà có nói việc ly hôn mà bà gửi đơn, ông T1 đánh liên tiếp vào đầu bà. Bà đã gửi đơn đến Công an xã P và Hội Liên hiệp Phụ nữ xã P can thiệp trong thời gian Tòa án giải quyết ly hôn, bà thấy tình cảm vợ chồng đã không còn nữa, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là Nguyễn Thiện N (nam), sinh ngày 07/5/2009 và Nguyễn Thiện N1 (nam), sinh ngày 15/01/2012.

Sau ly hôn, nguyện vọng bà muốn được trực tiếp nuôi con Nguyễn Thiện N1, bà đồng ý giao con chung Nguyễn Thiện N cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 đã nhận các văn bản của Tòa án, gởi bản tự khai thể hiện ý kiến của mình, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/10/2024, đã nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử và biết Tòa án mở phiên tòa để giải quyết việc bà T yêu cầu ly hôn với ông nhưng ông không đến Tòa.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông T1 có tham gia phiên Hòa giải do Tòa án tiến hành, ý kiến của ông là không đồng ý ly hôn, đồng ý giao con chung Nguyễn Thiện N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thiện N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71; Bị đơn không thực hiện đúng Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về hôn nhân, bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Thanh T1; về con chung, giao con Nguyễn Thiện N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Thiện N cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết, về tài sản và nợ chung bà T, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét. Về án phí bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1 có nơi cư trú tại xã P thành phố Phan Thiết; về con chung ông bà có 02 con chung là: Nguyễn Thiện N (giới tính: nam), sinh ngày 07/5/2009 và Nguyễn Thiện N1 (giới tính: nam), sinh ngày 15/01/2012.

Đây là vụ kiện “Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Phan T2 quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các bước thụ lý, hòa giải, ra Quyết định xét xử … nguyên đơn, bị đơn tham gia và chấp hành đầy đủ theo qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt, gởi và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành lập biên bản đúng theo quy định của khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về pháp luật được áp dụng để giải quyết: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Thanh T1 tự nguyện tìm hiểu, sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 64/2008, ngày 24/12/2008 nên là hôn nhân hợp pháp. Vì vậy, căn cứ vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: bà T cho rằng, hôn nhân giữa bà và ông T1 không được như ý muốn, ngay từ khi bắt đấu chung sống bà đã bất mãn, ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, mặc dù vẫn đang sống chung dưới một mái nhà nhưng ông bà đã không còn tiếng nói chung, Ông đánh đập xúc phạm bà quá nhiều lần đã gây tổn thương về thể xác và tinh thần cho bà. Bà không muốn duy trì hôn nhân với ông T1, ông bà thực tế chỉ còn gắn kết vì tờ Giấy chứng nhận kết hôn, bà không còn chút tình cảm nào với ông T1, cả hai không mang lại hạnh phúc cho nhau, gia đình hiện nay thực sự đã tan vỡ, bà tha thiết yêu cầu HĐXX xem xét cho ông bà được ly hôn.

HĐXX xét thấy thực tế ông bà đã không thương yêu, chăm sóc giúp đỡ nhau, việc ông T1 đánh đập bà là không thể chấp nhận được đã vi phạm khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, điều đó thể hiện hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, gia đình không hạnh phúc nên HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T với ông T1 theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Về con chung: ông bà có 02 con chung là: Nguyễn Thiện N (giới tính: nam), sinh ngày 07/5/2009 và Nguyễn Thiện N1 (giới tính: nam), sinh ngày 15/01/2012.

Xét nguyện vọng bà T và ông T1 sau ly hôn, mỗi người muốn được trực tiếp nuôi một con chưa thành niên, mặt khác đây cũng là nguyện vọng của các con nên HĐXX chấp nhận nguyện vọng giao con chung Nguyễn Thiện N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thiện N cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, bà T, ông T1 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về tài sản và nợ chung: do bà T, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2, khoản 3 Điều 81, khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Thanh T1. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Nguyễn Thanh T1.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là: Nguyễn Thiện N (giới tính: nam), sinh ngày 07/5/2009 và Nguyễn Thiện N1 (giới tính: nam), sinh ngày 15/01/2012.

Giao con chung Nguyễn Thiện N1 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Giao con chung Nguyễn Thiện N cho ông T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Thanh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ông T1, bà T đều được quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc các nhân, tổ chức theo quy định pháp luật tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Thanh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

3. Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình. Ngày 23/10/2024 bà T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002235 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết nay chuyển sang án phí, án phí bà T đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/3/2025), bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ