- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16/2025/HNGĐ-ST Ngày 11 - 9 - 2025 V/v: “Kiện ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Láo Tả
2. Ông Đỗ Trọng Bằng
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, Toà án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2025/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2025 về việc kiện “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L - Sinh năm 1984
Địa chỉ: thôn A, xã X, tỉnh Lào Cai.
(Địa chỉ trước sát nhập: thôn A, xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai) có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T - Sinh năm 1982
Địa chỉ: thôn A, xã X, tỉnh Lào Cai.
(Địa chỉ trước sát nhập: thôn A, xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai) có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T đăng ký kết hôn ngày 20/6/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T chung sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Nguyễn Anh T không tu trí làm ăn thường xuyên rượu chè và các tệ nạn xã hội, hay đe dọa đánh đập chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc, mâu thuẫn được hai bên gia đình, trưởng thôn khuyên bảo, hòa giải nhưng cuộc sống vợ chồng vẫn không được cải thiện, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến nay chị Nguyễn Thị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T có 02 người con chung cháu Nguyễn Thùy D - sinh ngày 02/12/2003, cháu Nguyễn Quốc H – sinh ngày 25/9/2006. Hiện các cháu đã đủ tuổi trưởng thành chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn anh Nguyễn Anh T: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án cho anh Nguyễn Anh T theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, ngày 14/7/2025 anh Nguyễn Anh T đến Tòa án làm bản tự khai và trình bày như sau: Anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị L đăng ký kết hôn ngày 20/6/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Nguyễn Anh T thi thoảng đi uống rượu cùng bạn bè dẫn đến vợ chồng thường sẩy ra cãi chửi nhau. Về con chung anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị L có hai người con chung cháu Nguyễn Thùy D - sinh ngày 02/12/2003, cháu Nguyễn Quốc H – sinh ngày 25/9/2006. Hiện các cháu đã đủ tuổi trưởng thành anh Nguyễn Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Về tài sản anh Nguyễn Anh T không yêu cầu tòa án giải quyết. Đến nay chị Nguyễn Thị L làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Anh T không nhất trí ly hôn. Ngày 05/8/2025 Tòa án ta thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số: 20/TB – TA và tống đạt cho anh Nguyễn Anh T thì được biết anh Nguyễn Anh T về nhà mẹ đẻ ở tỉnh Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) từ cuối tháng 7/2025 vì vậy Tòa án tiến hành xác minh và niêm yết thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số: 20/TB – TA theo đúng quy định của pháp luật, anh Nguyễn Anh T không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, cũng không có văn bản trả lời, hay có ý kiến về gì khác. Ngày 22/8/2025 Tòa án tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 21/8/2025 và Quyết định phân công Hội thẩm nhân dân số 22/2025/QĐ- TA, Giấy triệu tập số 245/2025/GTT ngày 21/8/2025 anh Nguyễn Anh T đã ký nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ngày 08/9/2025 anh Nguyễn Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về ly hôn: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Anh T.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn” đối với anh Nguyễn Anh T có địa chỉ tại thôn A, xã X, tỉnh Lào Cai (Địa chỉ trước sát nhập: thôn A, xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai) vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L không tham gia hòa giải, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Anh T vắng mặt đều có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị L theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T đăng ký kết hôn ngày 20/6/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T chung sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Nguyễn Anh T không tu trí làm ăn thường xuyên rượu chè và các tệ nạn xã hội, thường xuyên đe dọa đánh đập chị Nguyễn Thị L, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc, mâu thuẫn được hai bên gia đình, trưởng thôn khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng cuộc sống vợ chồng vẫn không được cải thiện, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến nay chị Nguyễn Thị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Anh T. Ngày 14/7/2025 Tòa án đã ra thông báo yêu cầu nguyên đơn nộp chứng cứ về mâu thuẫn vợ chồng, ngày 15/7/2025 nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ về mâu thuẫn vợ chồng, ngày 21/7/2025 Tòa án tiến hành xác minh và gặp ông Chu Văn Xuân là trưởng thôn A, xã X, tỉnh Lào Cai được ông Chu Văn Xuân cho biết chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T sinh sống tại thôn A, xã X, tỉnh Lào Cai (Địa chỉ trước sát nhập: thôn A, xã Q, huyện M, tỉnh Lào Cai) quá trình sinh sống tại địa phương anh Nguyễn Anh T không tu chí làm ăn, thường xuyên rượu chè, anh Nguyễn Anh T thường xuyên đe dọa đánh đập chị Nguyễn Thị L, thôn xóm đã nhiều lần sang hòa giải (không lập thành biên bản) anh Nguyễn Anh T hứa thay đổi tuy nhiên được một thời gian anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị L lại sẩy ra xích mích. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Nguyễn Anh T.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Anh T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000226 ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Xác nhận chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LC - VKSND tỉnh LC - VKS Khu vực 7 –Lào Cai - THADS khu vực 7 – Lào Cai - UBND xã X, tỉnh LC (nơi ĐKKH)2 - Các đương sự - Lưu hs, tập QĐ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Hương |