vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Mộng T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1. Về con chung: Bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà Thanh K (giới tính Nam), sinh ngày 13/02/2005 và cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Mộng T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/7/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà

Ông Lê Văn Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 03/02/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Mộng T. Địa chỉ: Ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài T1. Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2025, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 17/3/2025, nguyên đơn bà Hà Thị Mộng T trình bày:

Nguyên vào năm 2004, bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 quen nhau, yêu nhau, được hai bên gia đình làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 10/03/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Hậu Giang. Bà T và ông Nguyễn Hoài T1 chung sống với nhau được 02 người con chung là cháu Nguyễn Hà Thanh K (giới tính Nam), sinh ngày: 13/02/2005 và cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008.

Bà T và ông T1 chung sống với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa bà T và ông T1 không hạnh phúc, bà T và ông T1 không còn sống chung với nhau đã 2 năm nay. Mục đích hôn nhân không đạt được.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà Hà Thị Mộng T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Mộng T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1.

Về con chung: Hiện tại cháu Nguyễn Hà Thanh K (giới tính Nam), sinh ngày 13/02/2005 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008 đang sống ổn định cùng bà Hà Thị Mộng T nên bà yêu cầu sau khi ly hôn giao cháu L cho bà Hà Thị Mộng T được nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà Hà Thị Mộng T không yêu cầu ông Nguyễn Hoài T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoài T1: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Nguyễn Hoài T1, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Nguyễn Hoài T1 vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Nguyên đơn bà Hà Thị Mộng T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn ông Nguyễn Hoài T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị Mộng T đối với bị đơn ông Nguyễn Hoài T1, giải quyết cho bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008 cho bà Hà Thị Mộng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Hà Thanh L đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hà Thị Mộng T không yêu cầu ông Nguyễn Hoài T1 cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà Thị Mộng T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Hà Thị Mộng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1; Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hà Thanh L, sinh ngày 19/06/2008 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Nguyễn Hoài T1 cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ) thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Hà Thị Mộng T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoài T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 tự nguyện kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã Phụng Hiệp, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/3/2004 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 là hợp pháp. Bà Hà Thị Mộng T trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà và ông Nguyễn Hoài T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cả hai đã không còn chung sống hơn 2 năm nay. Cho nên bà Hà Thị Mộng T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Nguyễn Hoài T1 không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Hà Thị Mộng T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Mộng T và giải quyết cho bà Hà Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống thì bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà Thanh K (giới tính Nam), sinh ngày 13/02/2005 và cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008.

Đối với cháu Nguyễn Hà Thanh K đã đủ tuổi trưởng thành nên bà Hà Thị Mộng T không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Hà Thanh L: Bà Hà Thị Mộng T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hà Thanh L đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Nguyễn Hoài T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Hà Thanh L đang sống chung với bà Hà Thị Mộng T, được bà Hà Thị Mộng T chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Cháu Nguyễn Hà Thanh L cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Hà Thị Mộng T. Đồng thời, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Nguyễn Hoài T1 cũng không phản đối việc bà Hà Thị Mộng T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hà Thanh L. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu Nguyễn Hà Thanh L, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Mộng T, giao cháu Nguyễn Hà Thanh L cho bà Hà Thị Mộng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Hà Thanh L đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoài T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Hà Thị Mộng T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà Thị Mộng T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Hà Thị Mộng T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Mộng T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hoài T1.

- Về con chung: Bà Hà Thị Mộng T và ông Nguyễn Hoài T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Hà Thanh K (giới tính Nam), sinh ngày 13/02/2005 và cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008.

Đối với cháu Nguyễn Hà Thanh K đã đủ tuổi trưởng thành nên bà Hà Thị Mộng T không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Giao cháu Nguyễn Hà Thanh L (giới tính Nam), sinh ngày 19/06/2008 cho bà Hà Thị Mộng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Hà Thanh L đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Nguyễn Hoài T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Hà Thị Mộng T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Hoài T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hà Thị Mộng T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Hà Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005902 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Cần Thơ); Như vậy, bà Hà Thị Mộng T đã nộp xong án phí sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Hoài T1 không phải chịu án phí sơ thẩm.

Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ