- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Như Tr được ly hôn anh Nguyễn Hữu D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Khắc Dương
Ông Lê Bỉnh Quyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Long, Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa( cơ sở 2)xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Như Tr, sinh năm 1999. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Ph, xã Hoằng Đ( nay là xã Hoằng H), tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1997. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Ph, xã Hoằng Đ( nay là xã Hoằng H), tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2025, bản tự khai ngày 17/6/2025, nguyên đơn chị Hồ Thị Như Tr thể hiện:
Chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D tự nguyện kết hôn với nhau năm 2019 được UBND xã Hoằng Đ, huyện Hoằng H( nay là xã Hoằng H), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau đến năm 2023 thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm và anh D có quan hệ ngoài luồng với người khác vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Tr đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D.
Về con: Anh Nguyễn Hữu D và chị Hồ Thị Như Tr có 02(hai) con chung cháu tên là Nguyễn Thị Thảo Nhi, sinh ngày 26/10/2019; Nguyễn Hải Nam, sinh ngày 30/5/2021. Từ khi vợ chồng sống ly thân các cháu ở với chị Tr. Ly hôn, chị Tr có nguyện vọng nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng. Hiện nay chị Tr là lao động tự do mức thu nhập của chị mỗi tháng 12 triệu đồng; Về tài sản và công nợ: Chị Hồ Thị Như Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu D: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông Nguyễn Hữu H(bố đẻ anh D) và ông H cam đoan có trách nhiệm giao thông báo lại cho anh D.
Tại lời khai của ông Nguyễn Hữu H ngày ngày 09/7/2025 thể hiện:
Anh Nguyễn Hữu D và chị Hồ Thị Như Tr tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng Đ( nay là xã Hoằng H), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2019. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau được một thời gian thì chị Tr và anh D sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn, là do bất đồng quan điểm. Nay chị Tr làm đơn xin ly hôn anh D, anh D đồng ý ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết, tôi( Hưng) có trách nhiệm thông báo cho anh D khi anh đi làm về( anh D cũng đã biết việc chị Tr làm đơn xin ly hôn anh), ông H cam đoan giao tận tay cho anh D những văn bản tố tụng của Tòa án.
Về con chung: Vợ chồng anh Nguyễn Hữu D và chị Hồ Thị Như Tr có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Thảo Nhi, sinh ngày 26/10/2019; Nguyễn Hải Nam, sinh ngày 30/5/2021. Từ khi vợ chồng anh D, chị Tr sống ly thân các cháu ở với chị Tr. Nay ly hôn đề nghị Tòa án tiếp tục giao hai cháu cho chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn chị Hồ Thị Như Tr đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn anh Nguyễn Hữu Duyên chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị Như Tr được ly hôn anh Nguyễn Hữu D.
Về con chung: Công nhận chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Thảo Nhi, sinh ngày 26/10/2019; Nguyễn Hải Nam, sinh ngày 30/5/2021.Từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Nhi và cháu Nam ở với chị Tr. Nay ly hôn, chị Tr có nguyện vọng nuôi con nên đề nghị giao cháu Nhi và cháu Nam cho chị Tr tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 chị Trang phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị Như Tr khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Hữu D và xin được nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định chị Hồ Thị Như Tr là nguyên đơn, anh Nguyễn Hữu D là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Hữu D có địa chỉ tại xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Như tr thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật: Chị Hồ Thị Như Tr khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Hữu D và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, chính quyền địa phương xã Hoằng Hóa xác nhận: Chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2019, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân, mâu thuẫn địa phương không nắm bắt được. Vợ chồng anh chị có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Thảo Nhi, sinh ngày 26/10/2019; Nguyễn Hải Nam, sinh ngày 30/5/2021.
Tại phiên tòa ngày 20/8/2025, bị đơn anh Nguyễn Hữu D vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh Duyên vắng mặt không có lý do, chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D kết hôn với nhau năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng Đức( nay là xã Hoằng Hóa), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng anh chị sống với nhau hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, không thể hòa giải được. Chị Tr có nguyện vọng xin được ly hôn anh Duyên. Anh D mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không đến làm việc theo giấy triệu tập thể hiện anh bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và chị Tr không có mong muốn đoàn tụ. Do đó, HĐXX xét thấy tình cảm của anh, chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Như Tr cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D là phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh chị.
Về con chung: Chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Thị Thảo Nhi, sinh ngày 26/10/2019; Nguyễn Hải Nam, sinh ngày 30/5/2021.
Xét yêu cầu nuôi con của chị Hồ Thị Như Tr: Xét thấy, yêu cầu nuôi con của chị Tr là phù hợp vì từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Nhi và cháu Nam ở cùng với chị Tr, chị Tr là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, không nên sáo trộn cuộc sống sinh hoạt của các cháu nên tiếp tục giao cháu Nhi và cháu Nam cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản: Chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn là chị Hồ Thị Như Tr phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51,56,57,58, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Như Tr được ly hôn anh Nguyễn Hữu D.
Về con chung: Công nhận cháu Nguyễn Thị Thảo Nhi, sinh ngày 26/10/2019; Nguyễn Hải Nam, sinh ngày 30/5/2021 là con chung của chị Hồ Thị Như Tr và anh Nguyễn Hữu D.
Giao cháu Nguyễn Thị Thảo Nhi và Nguyễn Hải Nam cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật.
Anh Nguyễn Hữu D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Chị Tr và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu anh D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Tr có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Duyên.
Về án phí: Chị Hồ Thị Như Tr phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000479 ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa( nay là Chi cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa). Chị Tr đã nộp đủ số tiền án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Hồ Thị Như Tr, bị đơn anh Nguyễn Hữu D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND khu vực 4 - Thanh Hóa; - Chi cục THA tỉnh Thanh Hóa; -UBND xã Hoằng Hóa; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Phương |