- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị N và Lươngf văn N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lường Văn N.
- Căn cứ chính? Luật phá sản và luật hòa giải; Luật tố tụng hành chính; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HNGĐ- ST Ngày: 29-8-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị Thảo, ông Hà Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2025/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị N, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Tiểu khu T, xã Th, tỉnh Sơn La.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lƣờng Văn N, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tiểu khu T, xã Th, tỉnh Sơn La.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã TC (trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lò Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lường Văn N.
Về con chung: Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N có 01 (một) con chung là cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022. Hiện tại cháu Lường Thị Yến Nh ở với chị Lò Thị N.
Chị Lò Thị N có nơi cư trú ổn định. Chị Lò Thị N trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập. Chị Lò Thị N có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.
Chị Lò Thị N đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lường Thị Yến Nh.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị N không yêu cầu anh Lường Văn N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Lò Thị N cam đoan không có nợ chung.
Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lƣờng Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lường Văn N và chị Lò Thị N kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày ngày 17/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã TC (trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh Lường Văn N và chị Lò Thị N đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh Lường Văn N xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn chị Lò Thị N.
Về con chung: Anh Lường Văn N và chị Lò Thị N có 01 (một) con chung là cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022. Hiện tại cháu Lường Thị Yến Nh đang ở với chị Lò Thị N.
Anh Lường Văn N nhất trí để chị Lò Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lường Thị Yến Nh.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn N không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Lường Văn N cam đoan không có nợ chung.
Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Lò Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Nhung giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Anh Lường Văn N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Nam giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.
T i iên ản ác minh ngày 22/7/2025: Tại tiểu khu Ta Ngần, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Chị Lò Thị N, anh Lường Văn N có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã TC (trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Hiện tại chị Lò Thị N, anh Lường Văn N đã sống ly thân. Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N có 01 (một) con chung là cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022 đang ở với chị Lò Thị N. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25 tháng 6 năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lường Văn N.
Về con chung: Giao cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022 cho chị Lò Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lường Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị N không yêu cầu).
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Lò Thị N, anh Lường Văn N cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị N yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lường Văn N có địa chỉ tại Tiểu khu T, xã Th, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật số 85/2025/QH15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25 tháng 6 năm 2025.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lò Thị N, bị đơn anh Lường Văn N: Nguyên đơn chị Lò Thị N, bị đơn anh Lường Văn N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 17/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã TC (trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ cồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Nhung cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lường Văn N. Anh Lường Văn N nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nhung và anh Nam lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lường Văn N. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N có 01 (một) con chung là cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022. Hiện tại cháu Lường Thị Yến Nh ở với chị Lò Thị N.
Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N đều có ý kiến giao cháu Lường Thị Yến Nh cho chị Lò Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Chị Nhung, anh Nam có nơi cư trú rõ ràng, đều có thu nhập. Chị Lò Thị N trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm. Chị Nhung là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lường Thị Yến Nh từ năm 2022 cho đến nay.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022 cho chị Lò Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lường Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị N không yêu cầu).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Lò Thị N, anh Lường Văn N cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lò Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25 tháng 6 năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị N được ly hôn anh Lường Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Lường Thị Yến Nh, sinh ngày 21/4/2022 cho chị Lò Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lường Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lò Thị N không yêu cầu).
4. Về tài sản chung: Không có.
5. Về tài sản riêng: Không có.
6. Về nợ chung: Chị Lò Thị N và anh Lường Văn N cam đoan không có nợ chung.
7. Về án phí: Chị Lò Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000021, ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
8. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị N, anh Lường Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn La (2); - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - Đương sự; - UBND xã TC, tỉnh Sơn La; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |