vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn X Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Hữu P - sinh năm 1991 và Nguyễn Ngọc D- sinh năm 1996 hiện các con đã trưởng thành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Non-Xí"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13-LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 11/8/2025
V/v:“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Đổi

2. Bà Phạm Thị Bích Lệ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung - Kiểm sát viên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Thành - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng

Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 142/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969

Địa chỉ: Thôn Bình L, xã Phan Rí T, huyện Bắc B, tỉnh Bình Thuận. Nay là thôn Bình L, xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng

Bị đơn: Ông Nguyễn X, sinh năm 1966

Địa chỉ: Thôn Bình L, xã Phan Rí T, huyện Bắc B, tỉnh Bình Thuận. Nay là thôn Bình L, xã Bắc B, tỉnh Lâm Đồng

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện quá trình điều tra thu thập chứng cứ nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn X xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1991 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình chấp thuận và có tổ chức cưới hỏi cho vợ chồng.

Sau khi xác lập quan hệ, năm 2003 vợ chồng vào Đồng Nai sinh sống, cuộc sống chung vợ chồng từ khi xác lập quan hệ thì không hạnh phúc vì mỗi lần nhậu say về là ông đánh đập bà, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên năm 2008 ông Xí về lại về quê ở, bà và các con ở Đồng Nai.

Năm 2018 vợ chồng có đến UBND xã Phan Rí T đăng ký kết hôn.

Sau khi đăng ký kết hôn xong thì bà vào lại Đồng Nai, ông X vẫn ở quê. Vợ chồng không có tình cảm, sống xa nhau đã lâu, cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà làm đơn ly hôn với ông Nguyễn X.

Trước khi làm đơn bà có thông báo cho ông Xí biết và ông Xí cũng đồng ý nhưng ông X không đến Tòa án để giải quyết ly hôn với bà lý do vì sao ông X không đến Tòa thì bà không rõ.

Mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn X.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hữu P - sinh năm 1991 và Nguyễn Ngọc D- sinh năm 1996. Hiện nay các con đã trưởng thành

Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn X: Ông Nguyễn X không đến Tòa án theo giấy triệu tập, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục theo quy định của Bộ luật tống tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án

Hội đồng xét xử: đã thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo quy định tại Điều 12 Bộ luật TTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn thường xuyên vắng mặt, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa, vi phạm quy định tại Điều 70 BLTTDS năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS năm 2015; Điều 51, Điều 56 Luật HNGD năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn X.

- Về con chung: Đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn X đã được triệu tập hợp đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện thì giữa bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn X có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phan Rí Thành nay là xã Bắc Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 127 ngày 19/10/2018 nên xác định loại tranh chấp là tranh chấp hôn nhân gia đình và thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn”

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn X có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Bình L, xã Phan Rí T, huyện Bắc B, tỉnh Bình Thuận nay là thôn Bình L, xã Bắc B, tỉnh Lâm Đồng nên yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Bắc Bình nay là Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng theo quy định tại Điều 1, Điều 3 của Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, HĐXX nhận thấy: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn X xác lập quan hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp do đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Cuộc sống hôn nhân thực tế giữa bà N và ông Xí hiện nay đã xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng đã không còn có sự thương yêu, quan tâm, chia sẻ cùng thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng, tạo điều kiện để ông Xí và bà N hàn gắn tình cảm gia đình nhưng ông Xí từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án, không có ý kiến gì và luôn vắng mặt tại các buổi Tòa án triệu tập, hòa giải chứng tỏ ông Xí cũng không còn tha thiết hàn gắn tình cảm gia đình với bà N nữa.

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của bà N và ông X hiện đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà N yêu cầu được ly hôn với ông Xí là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Hữu P - sinh năm 1991 và Nguyễn Ngọc D- sinh năm 1996 hiện các con đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn X

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Hữu P - sinh năm 1991 và Nguyễn Ngọc D- sinh năm 1996 hiện các con đã trưởng thành

Về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, bà N đã nộp tại biên lai thu số 0009419, ngày 07/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13- Lâm Đồng, bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ