vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huyền T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn với anh Lê Công T1. [2] Về con chung: Giao con chung tên Lê Nhật H, sinh ngày 28/02/2024 cho chị Nguyễn Thị Huyền T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HÔN NHÂN GIA ĐÌNH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huyền T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ -ST
Ngày: 12 - 5 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Đình Vang.

2. Bà Nguyễn Thị Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2025/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền Trang, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Công T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền T trình bày:

Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Lê Công T1 tự nguyện tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên đồng ý và đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh T1 thường xuyên bất đồng quan điểm sống, đời sống vợ chồng ngày càng lạnh nhạt không cò tình yêu. Hai vợ chồng đã tìm các biện pháp để hàn gắn hôn nhân nhưng không đạt được và ngày càng đi vào bế tắc. Hiện tại vợ chồng không còn sống chung nhà, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Huyền Tyêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Công T1.

2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Lê Nhật H, sinh ngày 28/02/2024. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10/4/2025, bị đơn anh Lê Công T1 trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 thống nhất với phần trình bày của chị T về thời gian tìm hiểu, kết hôn và thời gian chung sống. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẩn nhưng không lớn, hiện nay anh T1 vẫn còn tình cảm với vợ, muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình và cùng nuôi dạy con cái vì vậy trước yêu cầu ly hôn của chị Tthì anh T1 không đồng ý.

2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Lê Nhật H, sinh ngày 28/02/2024. Do anh T1 không đồng ý ly hôn nên vấn đề con cái không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhận định:

[I] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Huyền T có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Lê Công T1. Anh T1 là bị đơn cư trú tại thôn T, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, anh Lê Công T1 có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[II] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Lê Công T1 tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã Nhâ n Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1 vì cho rằng vợ chồng luôn bất đồng quan điểm dẫn đến phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Anh T1 cũng thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, không tìm được T1 nói chung và đã ly thân đến nay, nhưng cho rằng còn thương chị T nên không đồng ý ly hôn. Xét quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương, trách nhiệm, nghĩa vụ, sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù anh T1 có nguyện vọng mong muốn chị T quay về chung sống để xây dựng hạnh phúc gia đình, tuy nhiên anh T1 không có biện pháp để khắc phục mâu thuẩn, níu kéo hôn nhân và chị T kiên quyết ly hôn anh T1, chứng tỏ chị Tđã không còn tình cảm với anh T1, các bên không tìm ra được T1 nói chung, anh T1 cũng không có biện pháp khắc phục, không ai còn quan tâm đến ai, đời sống hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Tyêu cầu được ly hôn với anh T1 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Tvà anh T1 có một con chung tên Lê Nhật H, sinh ngày 28/02/2024. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Hải hiện nay còn nhỏ và đang sống với chị T để tránh gây xáo trộn về tâm lý và đảm bảo quyền lợi về vật chất, tinh thần của người chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy nên tiếp tục giao các cháu Lê Nhật Hải cho chị Ttrực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành hoặc đến khi có quyết định khác thay thế là đúng quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ý kiến của chị Tlà hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Công T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huyền T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn với anh Lê Công T1.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Lê Nhật H, sinh ngày 28/02/2024 cho chị Nguyễn Thị Huyền T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế.

Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Lê Công T1 đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung.

Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tkhông yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Lê Công T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23 số 0002822 ngày 18/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/5/2025). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ cho họ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ