vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Huỳnh H là được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 sinh ngày 16/3/2017 là con chung của chị Phạm Thị Huỳnh H và anh Nguyễn Thành T; Giao cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 cho chị Phạm Thị Huỳnh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện cháu H1 đang sống chu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Huỳnh Hoa và Nguyễn Thành Trạng"
  • Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Huỳnh H là được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/01/2025.
Về việc: “T/c về ly hôn; nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Hiệp;

2. Bà Trần Việt Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 404/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huỳnh H, sinh năm 1996;

Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1990;

Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

(Vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Thành T; đã tống đạt hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Huỳnh H và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Phạm Thị Huỳnh H sống chung với anh Nguyễn Thành T từ năm 2015, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C, An Giang (giấy đăng ký kết hôn số 128 ngày 18/9/2015). Vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong tình cảm vợ chồng, thường xuyên hay cãi nhau và anh Nguyễn Thành T không quan tâm vợ con, đồng thời vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Thanh H1 sinh ngày 16/3/2017, hiện tại con đang sống chung với chị Phạm Thị Huỳnh H.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phạm Thị Huỳnh H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành T; về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu anh Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Về phía bị đơn anh Nguyễn Thành T thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh Nguyễn Thành T đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Nguyễn Thành T có nơi cư trú tại tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang; hiện tại anh Nguyễn Thành T không thường xuyên có mặt ở địa phương, giấy tờ của Tòa án giao gia đình vẫn nhận nhưng không có mặt nên Tòa án đã thông qua Thừa phát L thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con chung, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Thành T vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huỳnh H đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Nguyễn Thành T từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Phạm Thị Huỳnh H xin được ly hôn với anh Nguyễn Thành T. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị Huỳnh H và anh Nguyễn Thành T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Nguyễn Thành T để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh Nguyễn Thành T không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Huỳnh H là được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Phạm Thị Huỳnh H thừa nhận cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 sinh ngày 16/3/2017 là con chung của chị và anh Nguyễn Thành T, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện điều này; do đó cần công nhận cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 là con chung của chị H và anh T, đồng thời phía chị Phạm Thị Huỳnh H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung nữa thì cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 đã sống chung với chị Phạm Thị Huỳnh H đến nay, đồng thời phía anh Nguyễn Thành T cũng không có ý kiến; do đó, để ổn định tâm lý và cuộc sống cho cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Huỳnh H là giao cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 cho chị Phạm Thị Huỳnh H tiếp tục nuôi dưỡng. Ngoài ra, phía chị Phạm Thị Huỳnh H không yêu cầu anh Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Phạm Thị Huỳnh H có yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thành T nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Huỳnh H là được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 sinh ngày 16/3/2017 là con chung của chị Phạm Thị Huỳnh H và anh Nguyễn Thành T;

+ Giao cháu Nguyễn Phạm Thanh H1 cho chị Phạm Thị Huỳnh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện cháu H1 đang sống chung với chị H); anh Nguyễn Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị Huỳnh H, do không có yêu cầu.

+ Chị Phạm Thị Huỳnh H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Thành T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.

* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị Huỳnh H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0005047 ngày 25/10/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; được khấu trừ nên chị Phạm Thị Huỳnh H đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho chị Phạm Thị Huỳnh H biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng anh Nguyễn Thành T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ