vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Hoàng U cụ thể tuyên:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Hoàng U được ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Về con chung: Bà Lê Thị Hoàng U và ông Nguyễn Văn L có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Tiểu V, sinh ngày 04/01/2023. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Bà Lê Thị Hoàng U tự nguyện cấp dưỡng nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Hòang U xin ly hôn ông Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Hoàng U cụ thể tuyên:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MCB
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-3-2025
V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kim

Ông Nguyễn Phước Bình

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bình– Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 372/2024/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 18/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hoàng U, sinh năm 2004;

Địa chỉ: ấp TTN, xã TPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 2001;

Địa chỉ: Khu phố PH, thị trấn PMT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre

(Tất cả vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hoàng U trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn L tự nguyện kết hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phước Mỹ Trung, huyện MCB, tỉnh Bến Tre ngày 27/6/2022. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, cự cải nhau nhiều lần, không hạnh phúc không hòa giải được dẫn đến vợ chồng đã ly thân với nhau ngày 11/12/2023 cho đến nay. Nay, bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Tiểu Vi, sinh ngày 04/01/2023. Hiện nay, con chung đang sống cùng ông Nguyễn Văn L, sau khi ly hôn ông L tiếp tục nuôi con chung, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Hoàng U; về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Tiểu V, sinh ngày 04/01/2023. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Bà U tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: bà U khai không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Hoàng U yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn L, địa chỉ: thị trấn PMT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre. Do đó, căn cứ các Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

Quá trình Tòa án giải quyết đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông L nhiều lần nhưng ông L vẫn không đến Tòa án để hòa giải. Tòa án triệu tập ông L hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do. Bà U có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà U, ông L là đúng quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hoàng U và ông Nguyễn Văn L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PMT (nay là thị trấn PMT), huyện MCB, tỉnh Bến Tre ngày 27/6/2022 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Theo bà U trình bày, trong thời gian vợ chồng sống chung đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, không hạnh phúc dẫn đến vợ chồng ông đã ly thân với nhau từ ngày 11/12/2023 cho đến nay. Do bà không còn tình cảm vợ chồng nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L. Ông L được Tòa án mời đến để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nhưng ông L vẫn không đến; Tòa án đã triệu tập ra phiên tòa xét xử 02 lần nhưng ông L vẫn vắng mặt, điều này cho thấy ông L có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến hôn nhân của mình.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà U và ông L thực tế đã xảy ra. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 12/2023 cho đến nay vợ chồng vẫn không thể hàn gắn lại hạnh phúc gia đình. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà U, ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà U.

Về con chung: Bà Lê Thị Hoàng U khai vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Tiểu V, sinh ngày 04/01/2023. Hiện nay, con chung đang sống cùng với ông Nguyễn Văn L, sau khi ly hôn bà U đồng ý để ông L tiếp tục nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bà U tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hoàng U khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Hoàng U khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con bà Lê Thị Hoàng U phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 147 và Điều 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Hoàng U cụ thể tuyên:

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Hoàng U được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

- Về con chung: Bà Lê Thị Hoàng U và ông Nguyễn Văn L có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Tiểu V, sinh ngày 04/01/2023. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Bà Lê Thị Hoàng U tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000(một triệu) đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Bà Lê Thị Hoàng U được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng bà Lê Thị Hoàng U phải nộp; án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006649 ngày 05/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện MCB. Bà Lê Thị Hoàng U tiếp tục nộp án phí là 300.000(Ba trăm ngàn) đồng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ