- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty T và Nguyễn Ngọc H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Bản án số: 16/2025/DS-ST Ngày: 20-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kiệt.
Bà Sơn Thị Vành Đa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T;
Địa chỉ: Tòa nhà SCETPA, Số 19A, đường C, Phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đào Hà G, sinh ngày: 26/11/1989, CCCD: xxxxxxxxxxxx;
Địa chỉ: Tòa nhà SCETPA, Số 19A, Công Hòa, Phường B, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo giấy ủy quyền số: 16/2024/GUQ, ngày 16/10/2024 (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 15/3/1989, CMND: xxxxxxxxx;
Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 12 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đào Hà G trình bày:
Công ty T và ông Nguyễn Ngọc H có ký kết hợp đồng nguyên tắc số 21-2021/HĐNT ký ngày 01/02/2021 về việc mua bán hàng hóa phân bón. Công ty T đã thực hiện đúng nội dung thỏa thuận theo đơn đặt hàng bằng việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng cho ông Nguyễn Ngọc H theo đúng nội dung thỏa thuận và chờ thanh toán tiền hàng đã giao nhưng ông Nguyễn Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận qua việc không thanh toán tiền sau khi đã nhận hàng. Ngày 31/10/2023 Công ty T đã thực hiện đối chiếu công nợ với ông Nguyễn Ngọc H đã kiểm tra, đối chiếu và ký xác nhận số tiền đang nợ gốc là 442.000.000 đồng, lãi do nợ quá hạn 10%/năm là 43.586.111 đồng. Tổng cộng nợ chốt đến ngày 31/10/2023 là 485.586.111 đồng.
Công ty T đã rất nhiều lần làm việc, nhắc nợ yêu cầu ông Nguyễn Ngọc H phải có trách nhiệm thanh toán nợ, nhưng vẫn không thanh toán hứa hẹn nhiều và cố tình chiếm dụng số tiền nợ của Công ty T.
Theo đơn khởi kiện lập ngày 31 tháng 12 năm 2024 nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi nhưng trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thay đổi yêu cầu không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi, chỉ yêu cầu trả tiền vốn mua phân bón.
Nay nguyên đơn Công ty T yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm: Buộc ông Nguyễn Ngọc H trả cho Công ty T số tiền mua phân bón còn nợ là: 292.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc H sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ cho ông Hiển và bà Trang nhưng ông Hiển không có văn bản trả lời cho Tòa án. Tòa án có gửi thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án hai (02) lần nhưng ông Hiển vẫn không tham gia. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Hiển nhưng ông Hiển không gửi văn bản ghi ý kiến của ông Hiển đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn Công ty T.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án, việc nguyên đơn Công ty T yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc H trả tiền mua phân bón còn nợ là 292.000.000 đồng không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi. Thấy yêu cầu trên là phù hợp theo quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đào Hà G vắng mặt (có đơn vắng mặt); bị đơn ông Nguyễn Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Đào Hà G và bị đơn ông Nguyễn Ngọc H.
Xét việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn mua phân bón còn lại là 292.000.00 đồng, không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án: nguyên đơn Công ty T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Ngọc H trả cho nguyên đơn số tiền mua phân bón còn nợ là 292.000.000 đồng theo “Bảng đối chiếu công nợ” lập ngày 31 tháng 10 năm 2023 nên căn cứ vào Điều 430 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng mua bán”. Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H địa chỉ: ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Tú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Tú, thành phố Cần Thơ) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, Đối thoại tại Toà án ngày 25 tháng 6 năm 2025. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Giao dịch giữa nguyên đơn với bị đơn là giao dịch dân sự, giao dịch này được thể hiện qua việc mua bán và được các bên xác nhận là mua bán phân bón. Đây là vụ kiện tranh chấp nợ phát sinh từ hợp đồng mua bán. Xét về điều kiện của hiệu lực giao dịch dân sự thì trong trường hợp này hợp đồng giữa các bên hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật tại điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, các bị đơn ông Hiển và bà Trang đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện, nội dung, hình thức và mục đích của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã trả cho nguyên đơn được 150.000.000 đồng nên cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử công nhận giữa nguyên đơn và bị đơn có thực hiện giao kết mua bán phân bón là sự thật.
Đối với quyết toán công nợ ngày 31 tháng 10 năm 2023 có chữ ký chữ viết của bị đơn ông Nguyễn Ngọc H. Đồng thời tại các văn bản Tòa án gửi đến bị đơn đều nhận được và cũng không có ý kiến gì phản đối trước yêu cầu trên của nguyên đơn nên có căn cứ cho rằng việc mua bán giữa các bên là sự thật. Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn thanh toán mà bị đơn không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hiển trả số tiền mua phân bón còn nợ là 292.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những cơ sở trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền 292.000.000 đồng theo quyết toán công nợ ngày 31 tháng 10 năm 2023 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Nguyên đơn Công ty T không yêu cầu bị đơn ông Hiển trả tiền lãi. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn ông Hiển nhưng ông Hiển không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có văn bản trả lời cho Tòa án, không đưa ra chứng cứ và không tham gia phiên họp nhưng không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan nên căn cứ theo khoản 2, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 235; khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 351; Điều 357; Điều 430; Điều 440; Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc H trả cho nguyên đơn Công ty T số tiền mua bán phân bón còn lại là 292.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn Công ty T có đơn yêu cầu Thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị đơn ông Nguyễn Ngọc H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải Thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Công ty T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty T tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 8.712.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002174 ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ).
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 14.600.000 đồng.
3. Nguyên đơn; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.
| Nơi nhận - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 6-Cần Thơ; - Phòng THAKV6, THADS TPCT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |