vanban.org

Bản án 16/2024/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử vắng mặt các đương sự. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty X kiện Công ty A"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2024/KDTM-ST
Ngày 26 tháng 6 năm 2024
T/c “Hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đặng Hữu Tấn; Ông Phạm Ngọc Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 07/2024/TLST–KDTM ngày 14 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 332/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 335/2024/QĐST-KDTM ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần X1

Địa chỉ: Số C, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh X, chủ tịch HĐQT

Người được ủy quyền: Ông Đoàn Lê V, chức vụ: Kế toán Công ty.

(Ông V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Công ty TNHH A.

Địa chỉ: Tổ E, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện: Ông Nguyễn Long N, chức vụ: Giám đốc

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Long N.

Địa chỉ: Tổ E, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

(Công ty A và ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 05/02/2024 và trong quá trình tố tụng, ông Đoàn Lê V là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần X1, trình bày:

Ngày 03/02/2023, Công ty TNHH A (gọi tắt là Công ty A) do ông Nguyễn Long N làm giám đốc và Công ty Cổ phần X1 (gọi tắt là Công ty X1) có thỏa thuận ký hợp đồng kinh tế số 420/HĐKT/2023 để mua bán bê tông trộn sẵn. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, khi Công ty A cần số lượng bê tông thì thông báo cho Công ty X1 trong thời gian 48 giờ và thông báo chính thức lại trước 12 giờ đổ bê tông thì Công ty X1 sẽ giao bê tông và hai bên xác nhận số lượng, thanh toán tiền bê tông đã nhận trong thời hạn 15 ngày. Quá trình thực hiện, vào các ngày 03/4/2023, ngày 11/4/2023 và ngày 27/4/2023, Công ty X1 đã giao đủ số lượng bê tông theo yêu cầu của Công ty A với tổng số tiền 265.610.000 đồng. Công ty A đã thanh toán cho Công ty X1 số tiền 88.800.000 đồng. Ngày 30/4/2023, hai bên Công ty có biên bản đối chiếu công nợ, xác nhận số tiền Công ty A còn nợ 176.810.000 đồng. Ngày 11/7/2023 và ngày 02/8/2023, Công ty X1 gửi 02 bản thông báo nhắc nợ nhưng Công ty A vẫn không thực hiện thanh toán nợ. Do đó, theo thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng, Công ty X1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty A và ông Nguyễn Long N phải có trách nhiệm trả số tiền mua bê tông còn là 176.810.000 đồng và chịu lãi chậm trả theo Điều 4 của hợp đồng từ ngày 15/5/2023 đến ngày 22/12/2023 với số tiền lãi tạm tính là 14.327.540 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi khi xét xử xong.

Bị đơn Công ty TNHH A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Long N vắng mặt trong quá trình tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Đoàn Lê V có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai, không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại 2005, Điều 434, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X1, buộc Công ty TNHH A và ông Nguyễn Long N phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán đối với số tiền nợ gốc là 176.810.000 đồng và lãi chậm trả phát sinh theo thỏa thuận tại Điều 4 của hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa Công ty X1 và Công ty A là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Công ty X1 ủy quyền cho ông Đoàn Lê V tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn theo quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Đoàn Lê V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được Tòa án cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không lý do. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.

Về nội dung tranh chấp

Theo yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn Công ty X1 và bị đơn Công ty TNHH A có giao dịch mua bán bê tông trộn sẵn phục vụ xây dựng công trình theo hợp đồng kinh tế số 420/HĐKT/2023 ngày 03/02/2023, các bên có thỏa thuận thời gian giao nhận bê tông, thanh toán tiền trên số lượng bê tông đã nhận trong thời hạn 15 ngày, thỏa thuận này phù hợp với Điều 24, Điều 34, Điều 37, Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại năm 2005. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giao số lượng bê tông theo yêu cầu của phía bị đơn với tổng số tiền là 265.610.000 đồng và bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn Công ty X1 số tiền 88.800.000 đồng, còn nợ lại 176.810.000 đồng theo bản đối chiếu công nợ 30/4/2023 nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn về tài sản nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này thể hiện bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận tại Điều 4 của hợp đồng, thỏa thuận tính lãi theo biểu lãi nợ quá hạn của Ngân hàng Đ chi nhánh A1, thời gian tính lãi từ ngày 15/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/6/2024. Xét thấy, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Nguyên đơn yêu cầu áp dụng lãi cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp là 8,8%/năm theo Văn bản số 529/BIDV.AG.KHDN ngày 24/4/2023, không áp dụng lãi quá hạn là có lợi cho bị đơn. Như vậy, số tiền lãi tính lãi từ ngày 15/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/6/2024 là 13 tháng 11 ngày x 176.810.000 đồng x 8,8%/năm (0.733%/tháng) = 17.323.430 đồng.

Đối với yêu cầu ông Nguyễn Long Nghĩa l giám đốc Công ty phải có trách nhiệm liên đới thanh toán nợ cùng với Công ty TNHH A. Xét thấy, yêu cầu này phù hợp theo thỏa thuận của các bên tại Điều 6 của hợp đồng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 85, Điều 86, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 24, Điều 34, Điều 37, Điều 50, Điều 55 và Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử vắng mặt các đương sự.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc Công ty TNHH A và ông Nguyễn Long N phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Công ty Cổ phần X1 số tiền 194.133.430 đồng, trong đó tiền mua bê tông trộn sẵn còn nợ là 176.810.000 đồng, tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ là 17.323.430 đồng.

Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về án phí sơ thẩm

Công ty TNHH A và ông Nguyễn Long N phải liên đới nghĩa vụ nộp 9.706.672 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả lại Công ty Cổ phần X1 số tiền 4.778.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001694 ngày 12/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L.

[3] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Cỡ chữ