- Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒ ĐÌNH HÒA + ĐỒNG BỌN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? X : 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Đình H và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HSST. Ngày: 15 - 4 - 2024. |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TO N NH N D N HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiệm
Bà Nguyễn Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa t nh Phú Thọ.
- Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Hạ Hòa t nh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Chinh - Ki m sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại tr s Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa t nh Phú Thọ m phiên tòa t sơ thẩm c ng khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 17/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa v án ra t số: 16/2024/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hồ Đình H; Tên gọi khác: Kh ng; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 19/9/1985 tại huyện H t nh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT và chỗ : Khu A xã V huyện H t nh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Bố đẻ: Hồ Đình P; Mẹ đẻ: Trần Thị L (cả bố và mẹ đều đã chết). Anh chị em ruột: Có 05 người bị cáo là thứ năm. Vợ: Đỗ Thị H1 sinh năm 1990 hiện ã V huyện H. Con: Có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án: Kh ng.
Tiền sự: Có 02 tiền sự.
+ Tại Quyết định áp d ng biện pháp lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc số 03/QĐ-TA ngày 28/8/2020 TAND huyện Hạ Hòa t nh Phú Thọ áp d ng biện pháp lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành ong ngày 11/9/2022.
+ Tại quyết định phạt vi phạm hành chính số 91/QĐ-XPHC ngày 21/9/2023, UBND xã C, huyện T t nh Phú Thọ phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Hiện chưa chấp hành ong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 08/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - C ng an t nh P.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Kh ng; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 14/4/1982 tại huyện H t nh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT: Tổ D phường M thành phố Y t nh Yên Bái. Chỗ : Khu A ã Y huyện H t nh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Bố đẻ: Nguyễn Văn N (đã chết). Mẹ đẻ: Đinh Thị P1, sinh năm 1942 hiện xã Y, huyện H t nh Phú Thọ. Anh chị em ruột: Có 08 người bị cáo là thứ tám. Vợ: Nguyễn Thị Thanh H2 sinh năm 1986 hiện phường M thành phố Y t nh Yên Bái. Con: Có 04 con lớn nhất sinh năm 2007 nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án tiền sự: Kh ng.
Nhân thân:
+ Tại quyết định phạt vi phạm hành chính số 94/QĐ-XPVPHC ngày 21/3/2018, C ng an thành phố Y t nh Yên Bái phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ s d ng trái ph p chất ma tuý chấp hành ong cùng ngày.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 04/5/2018 TAND huyện Yên Bình t nh Yên Bái phạt 02 năm tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 04 năm.
+ Tại Quyết định áp d ng biện pháp lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc số 17/2019/QĐ-TA ngày 10/7/2019 TAND thành phố Yên Bái t nh Yên Bái áp d ng biện pháp lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành ong ngày 15/8/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 08/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - C ng an t nh P.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Bùi Thị Thanh N1 - Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước t nh P (có mặt).
Bị hại: Vũ Thị Hồng H3 sinh năm 1979;
Địa ch : Khu A ã Y huyện H t nh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 00 ngày 08/12/2023 C ng an huyện H nhận được trình báo của chị Vũ Thị Hồng H3 sinh năm 1979 khu A ã Y huyện H t nh Phú Thọ về việc: Khoảng hơn 12 giờ ngày 07/12/2023 chị bị kẻ gian trộm cắp 01 e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 dựng tại sân nhà của gia đình. Ngay sau khi tiếp nhận đơn trình báo Cơ quan CSĐT - C ng an huyện H đã tiến hành điều tra làm rõ đối tượng trộm cắp chiếc e trên là Hồ Đình H, sinh năm 1985 khu A ã V huyện H t nh Phú Thọ và Nguyễn Văn T sinh năm 1982 khu A ã Y huyện H t nh Phú Thọ đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 e máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 cùng 01 đăng ký e.
Ngày 11/12/2023 Cơ quan CSĐT - C ng an huyện H đã yêu cầu định giá tài sản bị trộm cắp. Tại Kết luận định giá tài sản số 53/KL - HĐĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá huyện Hạ Hòa kết luận:
“ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu đen biển kiểm soát 19X1-1712. Mua mới tháng 11/2007 với giá 12.600.000 đồng sử dụng đến ngày 07/12/2023 có trị giá 2.600.000 đồng.”
Ngày 13/12/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định kh i tố v án hình sự kh i tố bị cáo đối với Hồ Đình H và Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra H và T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình c th như sau:
Khoảng 8 giờ sáng ngày 07/12/2023 Nguyễn Văn T sinh năm 1982 HKTT: Tổ D phường M thành phố Y t nh Yên Bái; Chỗ : Khu A ã Y huyện H t nh Phú Thọ đang nhà mình tại khu A ã Y huyện H thì Hồ Đình H, sinh năm 1985 khu A ã V huyện H t nh Phú Thọ s d ng điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS gắn sim số 0866.865.738 gọi vào điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA gắn sim số 0326.034.034 của T rủ T ra nhà H khu A ã V huyện H đ đón H rồi cùng nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu ài T đồng ý. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T điều khi n chiếc e m t Drem BKS 19G1- 310.91 của mình đi đón H. Trên đường đi đến khu A xã Y huyện H, T nhìn thấy chiếc e m t nhãn hiệu Honda Wave bi n ki m soát 19X1-1712 của chị Vũ Thị Hồng H3 sinh năm 1979 khu 1 ã Y huyện H t nh Phú Thọ dựng tại sân nhà c a cổng kh p nhưng kh ng khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp. Vì vậy khi gặp H, T bảo H điều khi n e ch T quay lại đ trộm cắp chiếc e m t trên. Khi đến nơi T đi bộ vào sân nhà chị H3 trộm cắp chiếc e máy còn H ngoài cảnh giới. Thọ nhìn ung quanh kh ng có ai nên m c a cổng đi đến vị trí đ chiếc e máy thì phát hiện chìa khóa e vẫn cắm ổ khóa điện. T dắt bộ chiếc e ra đường rồi m khoá nổ máy điều khi n chiếc e máy vừa trộm cắp được cùng H điều khi n e của T đi theo đường bê t ng lên ã L qua cầu H sang quốc lộ C hướng lên thành phố Y đ bán chiếc e trộm cắp được. Trên đường đi T m cốp e ki m tra thấy bên trong có 01 đăng ký e m t và 01 Giấy chứng nhận bảo hi m dân sự bắt buộc của chủ e m t . Khi đến thành phố Y cả hai cùng vào c a hàng bu n sắt v n của chị Phan Thị Y sinh năm 1984 phường Đ thành Phố Y t nh Yên Bái. Tại đây T nói với chị Y chiếc e Honda Wave bi n ki m soát 19X1-1712 là của em gái T muốn bán với giá từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. Tuy nhiên chị Y ch mua chiếc e trên với giá 550.000 đồng thì T đồng ý. Sau khi bán được e T và H cùng nhau tiêu sài hết số tiền trên tại thành phố Y rồi quay về nhà.
Về vật chứng: Ngày 19/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại 01 e máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712; 01 đăng ký e m t và 01 Giấy chứng nhận bảo hi m dân sự bắt buộc của chủ e m t cho chị Vũ Thị Hồng H3.
Hiện cơ quan điều tra đang tạm giữ chiếc e m t đã qua s d ng nhãn hiệu Dream màu đen trắng BKS 19G1- 310.91 mà các bị cáo s d ng đi trộm cắp tài sản; 01 điện thoại di động đã qua s d ng nhãn hiệu PHILIPS màu đen nắp máy bị vỡ làm hai mảnh gắn sim số 0866.865.738; 01 điện thoại di động đã qua s d ng nhãn hiệu NOKIA màn hình đen trắng vỏ nhựa trong suốt bàn phím dưới bị rách gắn sim số 0326.034.034 và 01 Căn cước c ng dân mang tên Nguyễn Văn T.
Về dân sự: Bị hại là chị Vũ Thị Hồng H3 đã nhận lại toàn bộ tài sản là chiếc e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 01 đăng ký e Giấy chứng nhận bảo hi m trách nhiệm dân sự bắt buộc và kh ng có yêu cầu gì khác. Chị Phan Thị Y là người đã mua chiếc e m t do các bị cáo trộm cắp chị Y kh ng yêu cầu bị cáo H và T phải trả lại số tiền 550.000 đồng khi mua xe.
Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo đều là lao động tự do bản thân kh ng có tài sản riêng có giá trị.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ v lợi.
Tại Cáo trạng số 15/CT- VKSHH ngày 28/02/2024 Viện ki m sát nhân dân huyện Hạ Hòa t nh Phú Thọ đã truy tố đối với Hồ Đình H và Nguyễn Văn T về tội "Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Hạ Hòa t nh Phú Thọ giữ nguyên quan đi m truy tố và đề nghị Hội đồng t : Áp d ng khoản 1 Điều 173 đi m s khoản 1 Điều 51 (đối với H và T); đi m i khoản 1 khoản 2 Điều 51 (đối với H); Điều 38; đi m a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m a khoản 2 khoản 3 Điều 106 BLTTHS Đi m đ khoản 1 Điều 12 (đối với T) Điều 23 (đối với H) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Đình H và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: X phạt Hồ Đình H từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 12 năm 2023.
X phạt Nguyễn Văn T từ 21 (hai mươi mốt) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 12 năm 2023.
Về hình phạt bổ sung: Kh ng áp d ng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng:
Xác nhận ngày 19/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vũ Thị Hồng H3 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712; 01 đăng ký e m t e máy số 001947 BKS 19X1-1712 và 01 Giấy chứng nhận bảo hi m bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ e m t cho chị Vũ Thị Hồng H3 (Theo biên bản về việc trả lại tài sản đồ vật tài liệu ngày 19/12/2023).
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc e m t nhãn hiệu Dream màu nâu, BKS 19G1- 310.91, xe kh ng có gương chiếu hậu kh ng có chìa khóa e cũ đã qua s d ng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen có bàn phím. Nắp máy phía sau bị vỡ làm hai mảnh kh ng đóng được phải dùng dây buộc đã cũ qua s d ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màn hình màu đen trắng vỏ nhựa trong suốt phần bàn phím dưới bị rách phần vỏ phía sau có nhiều vết nứt vỡ đã cũ qua s d ng là phương tiện các bị cáo s d ng đi lại liên lạc đ trộm cắp tài sản.
Tịch thu tiêu hủy sim số 0866.865.738 của H và sim số 0326.034.034 của T lắp trong máy điện thoại kh ng còn giá trị s d ng
Trả lại cho bị cáo T 01 Căn cước c ng dân số 025082012055 mang tên Nguyễn Văn T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 29/02/2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Vũ Thị Hồng H3 đã nhận lại toàn bộ tài sản là chiếc e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712, 01 đăng ký e Giấy chứng nhận bảo hi m trách nhiệm dân sự bắt buộc và kh ng có yêu cầu gì khác. Chị Phan Thị Y là người đã mua chiếc e m t do các bị cáo trộm cắp chị Y kh ng yêu cầu bị cáo H và T phải trả lại số tiền 550.000 đồng khi mua e. Nên kh ng đặt ra giải quyết trách nhiệm dân sự trong v án.
- Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T là hộ cận nghèo nên được miễn theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và trình bày tại phiên tòa như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo kh ng tranh luận gì về tội danh mức hình phạt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo T phát bi u quan đi m bảo vệ: Đồng ý với bản luận tội về tội danh hình phạt mà vị đại diện viện ki m sát nhân dân huyện Hạ Hòa đã trình bày tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng t cho bị cáo mức phạt nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện viện ki m sát.
Trước khi Hội đồng t vào phòng nghị án các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t hỏi tranh luận tại phiên tòa Hội đồng t nhận thấy như sau:
[1]. Về tố t ng: Hành vi quyết định của Cơ quan điều tra C ng an huyện H Điều tra viên - Công an huyện H Ki m sát viên - Viện ki m sát nhân dân huyện Hạ Hòa trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định tại Bộ luật tố t ng hình sự. Các quyết định tố t ng của các cơ quan tiến hành tố t ng đã được tống đạt cho các bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Các bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
[2] . Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Hội đồng t có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 07/12/2023 tại nhà chị Vũ Thị Hồng H3 sinh năm 1979 khu 1 xã Y, huyện H t nh Phú Thọ, Hồ Đình H sinh năm 1985 khu A ã V huyện H t nh Phú Thọ và Nguyễn Văn T sinh năm 1982 HKTT: Tổ D phường M thành phố Y t nh Yên Bái; Chỗ : Khu A ã Y huyện H t nh Phú Thọ đã cùng nhau trộm cắp của chị H3 e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 trị giá 2.600.000 đồng.
Do vậy hành vi của bị cáo Hồ Đình H và Nguyễn Văn T đã phạm tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
[3]. Về tính chất động cơ m c đích của hành vi phạm tội:
Các bị cáo là người đã trư ng thành có năng lực trách nhiệm hình sự đủ nhận thức được trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp vì động cơ m c đích v lợi muốn kiếm tiền nhanh chóng; điều đó th hiện sự ngang nhiên coi thường pháp luật là hành vi nguy hi m cho ã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù thuộc loại tội ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo âm phạm đến quyền s hữu về tài sản của c ng dân gây mất trật tự trị an địa phương gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân ảnh hư ng đến nếp sống văn minh của ã hội. Vì vậy cần lý đ giáo d c riêng đối với từng bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn ã hội.
Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt Hội đồng t (HĐXX) em t nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với từng bị cáo.
[4]. Về nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân rất ấu là người nghiện ma túy đã nhiều lần bị và lý hành chính về hành vi s d ng trái ph p chất ma túy. Bị cáo T ngày 04/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình t nh Yên Bái 02 năm tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo T đã chấp hành ong bản án ngày 04/5/2018 nên kh ng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Bị cáo H cũng kh ng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên đều được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại đi m s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hồ Đình H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bố đẻ là người có c ng với Nhà nước hiện là thương binh hạng ¼ nên bị cáo được áp d ng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại đi m i khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân tính chất mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp d ng đối với từng bị cáo. Hội đồng t
t thấy: Bị cáo Hồ Đình H và Nguyễn Văn T đều là các đối tượng nghiện ma túy nhiều lần bị phạt hành chính và đưa đi cơ s cai nghiện bắt buộc các bị cáo kh ng lấy đó làm bài học và tu dưỡng bản thân mà tiếp t c phạm tội. Vì vậy bảo đảm tính răn đe đ các bị cáo cải tạo tu dưỡng rèn luyện tr thành người c ng dân tốt có ích cho gia đình ã hội cần áp d ng mức hình phạt nghiêm khắc
phạt tù giam đối với các bị cáo.
Trong v án bị cáo H là người kh i ướng rủ T đi trộm cắp tài sản và bị cáo T là người chuẩn bị phương tiện trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp vai trò của các bị cáo trong v án là như nhau. Tuy nhiên bị cáo T có nhân thân ấu hơn đã từng bị t
02 năm tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo H có nhiều hơn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần H với mức hình phạt nhẹ hơn bị cáo T như đề nghị của đại diện Viện ki m sát là hoàn toàn phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo có th bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. X t thấy các bị cáo là người nghiện ma túy làm lao động tự do kh ng có thu nhập ổn định kh ng có tài sản riêng có giá trị. Nên kh ng áp d ng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6]. Về lý vật chứng:
Cần ác nhận ngày 19/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vũ Thị Hồng H3 01 e máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712; 01 đăng ký e m t
e máy số 001947 BKS 19X1-1712 và 01 Giấy chứng nhận bảo hi m bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ e m t cho chị Vũ Thị Hồng H3 (Theo biên bản về việc trả lại tài sản đồ vật tài liệu ngày 19/12/2023).
Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc e m t nhãn hiệu Dream màu nâu, BKS 19G1- 310.91 e kh ng có gương chiếu hậu kh ng có chìa khóa e cũ đã qua s d ng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen có bàn phím. Nắp máy phía sau bị vỡ làm hai mảnh kh ng đóng được phải dùng dây buộc đã cũ qua s d ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màn hình màu đen trắng vỏ nhựa trong suốt phần bàn phím dưới bị rách phần vỏ phía sau có nhiều vết nứt vỡ đã cũ qua s d ng là phương tiện các bị cáo s d ng đi lại liên lạc đ trộm cắp tài sản.
Cần tịch thu tiêu hủy sim số 0866.865.738 của H và sim số 0326.034.034 của T lắp trong máy điện thoại kh ng còn giá trị s d ng
Trả lại cho bị cáo T 01 Căn cước c ng dân số 025082012055 mang tên Nguyễn Văn T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 29/02/2024)
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là chị Vũ Thị Hồng H3 đã nhận lại toàn bộ tài sản là chiếc e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 01 đăng ký e Giấy chứng nhận bảo hi m trách nhiệm dân sự bắt buộc và kh ng có yêu cầu gì khác. Chị Phan Thị Y là người đã mua chiếc e m t do các bị cáo trộm cắp chị Y không yêu cầu bị cáo H và T phải trả lại số tiền 550.000 đồng khi mua e. Nên kh ng đặt ra giải quyết trách nhiệm dân sự trong v án là phù hợp quy định pháp luật.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Các vấn đề khác trong v án: Đối với chị Phan Thị Y là người mua chiếc e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 quá trình điều tra đã làm rõ khi mua e chị Y kh ng biết đây là tài sản do H và T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra kh ng đề nghị lý là đúng quy định của pháp luật.
[10]. Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Hạ Hòa thực hành quyền c ng tố tại phiên tòa đề uất về hình phạt đối với bị cáo Hội đồng t
t thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 đi m s khoản 1 Điều 51 (đối với H và T); đi m i khoản 1 khoản 2 Điều 51 (đối với H); Điều 38; đi m a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m a khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Đi m đ khoản 1 Điều 12 (đối với T) Điều 23 (đối với H) Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.
X : 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Đình H và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: X phạt Hồ Đ (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 12 năm 2023.
X phạt Nguyễn Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 12 năm 2023.
- Về hình phạt bổ sung: Kh ng áp d ng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về lý vật chứng:
Xác nhận ngày 19/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vũ Thị Hồng H3 01 e máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712; 01 đăng ký e m t e máy số 001947 BKS 19X1-1712 và 01 Giấy chứng nhận bảo hi m bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ e m t cho chị Vũ Thị Hồng H3 (Theo biên bản về việc trả lại tài sản đồ vật tài liệu ngày 19/12/2023).
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc e m t nhãn hiệu Dream màu nâu, BKS 19G1- 310.91 e kh ng có gương chiếu hậu kh ng có chìa khóa e cũ đã qua s d ng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS màu đen có bàn phím. Nắp máy phía sau bị vỡ làm hai mảnh kh ng đóng được phải dùng dây buộc đã cũ qua s d ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màn hình màu đen trắng vỏ nhựa trong suốt phần bàn phím dưới bị rách phần vỏ phía sau có nhiều vết nứt vỡ đã cũ qua s d ng.
Tịch thu tiêu hủy sim số 0866.865.738 của H và sim số 0326.034.034 của T lắp trong máy điện thoại kh ng còn giá trị s d ng.
Trả lại cho bị cáo T 01 Căn cước c ng dân số 025082012055 mang tên Nguyễn Văn T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 29/02/2024)
4. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là chị Vũ Thị Hồng H3 đã nhận lại toàn bộ tài sản là chiếc e m t nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 19X1-1712 01 đăng ký e Giấy chứng nhận bảo hi m trách nhiệm dân sự bắt buộc và kh ng có yêu cầu gì khác. Chị Phan Thị Y là người đã mua chiếc e m t do các bị cáo trộm cắp chị Y không yêu cầu bị cáo H và T phải trả lại số tiền 550.000 đồng khi mua e. Nên kh ng đặt ra giải quyết trách nhiệm dân sự trong v án.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Đình H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn theo quy định pháp luật.
Trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân t nh Phú Thọ đ yêu cầu t phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân t nh Phú Thọ đ yêu cầu t
phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. N i nhận:
| - TAND t nh Phú Thọ; - VKSND t nh Phú Thọ; - VKSND huyện Hạ Hòa; - Cơ quan THAHS -CA huyện Hạ Hòa; - Cơ quan CSĐT - C ng an huyện Hạ Hòa; - Trại tạm giam c ng an t nh Phú Thọ; - S Tư Pháp t nh Phú Thọ; - Chi c c THA huyện Hạ Hòa; - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; - Bị hại; - Lưu AV HS. | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Yên |