- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày: 24-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Phước Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Hữu S, sinh năm 1999, tại B; hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh B; chỗ ở: Khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần D (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc H1; tiền sự: Không, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phan Dương H, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Tổ 06, khóm T, Ấp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh V.
- Người làm chứng:
1.
Võ Thị Tuyết H2. Xin vắng mặt
2.
Nguyễn Minh P, sinh năm 1999. Xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 16/3/2022, lực lượng Công an phường T kết hợp đội Ma Túy công an thị xã Bến Cát kiểm tra hành chính tại phòng số 02, nhà trọ Vương Huy D, cạnh đường DK11, Khu phố 3A, phường T, thị xã B, tỉnh B của Trần Hữu S thuê ở, phát hiện trên nền nhà dưới tầng trệt có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine). Tại thời điểm kiểm tra trong phòng có Trần Hữu S, Phan Dương H, Võ Thị Tuyết H2 và Nguyễn Minh P.
Qua khám xét khẩn cấp phòng trọ của S, lực lượng Công an phát hiện:
- Ngăn thứ nhất của kệ inox để dưới gầm bếp nấu ăn phía bên trái theo hướng từ ngoài vào có 01 hộp giấy màu đen in chữ Samsung Galaxy S10+, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nylon miệng kéo dính, hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng.
- Ngăn thứ hai của kệ inox để dưới gầm bếp nấu ăn phía bên trái theo hướng từ ngoài vào có 01 hộp giấy hiệu Charme No.1 New York bên trong có: 01 cân điện tử màu đen hiệu Digital Scale Not Legal For Trace và 02 kéo bằng kim loại.
Vật chứng thu giữ gồm có: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hộp giấy hiệu Charme No.1 New York; 01 cân điện tử màu đen hiệu Digital Scale Not Legal For Trace; 02 kéo bằng kim loại; 01 hộp giấy màu đen ghi chữ Samsung Galaxy S10+; 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá (M1) và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá (M2); 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 2F, màu bạc của Phan Dương H và 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Trần Hữu S.
Theo Biên bản kiểm tra tin nhắn zalo trong điện thoại di động hiệu OPPO Reno2F, sim số 0898.776.632 của Phan Dương H thể hiện nội dung trao đổi giữa H và S vào ngày 22/02/2022 như sau: “ Lúc 03 giờ 29 phút 41 giây: A đóng voi đó cho e 1 2 cái nòi dk k a; Lúc 03 giờ 30 phút 35 giây: dụng cụ đi riêng với đồ; Lúc 07 giờ 39 phút 17 giây: đồ koa chua a”.
Trần Hữu S khai: S và Phan Dương H có mối quan hệ quen biết nhau. Võ Thị Tuyết H2 là bạn của H. Nguyễn Minh P là bạn của S. Khoảng 11 giờ ngày 14/3/2022, S điện thoại cho H đặt mua 2.000.000 đồng ma túy đá và hẹn ngày 15/3/2022 sẽ nhận ma túy tại phòng trọ của S. Khoảng 11 giờ ngày 15/3/2022, S nhận được điện thoại của H nói đi cùng H2 đến khu vực ngã ba Lăng Xi thuộc phường Tân Định, thị xã Bến Cát thì xe hỏng, kêu S đến đón. Khoảng 16 giờ cùng ngày, S dẫn H và H2 về phòng số 02, nhà trọ Vương Huy Dũng của S ngồi chơi trên gác. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H rủ S cùng sử dụng ma túy thì S lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình có sẵn trong phòng đưa cho H lấy ma túy của H đem theo bỏ vào nỏ thủy tinh rồi cùng H2, S sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, H2 đi ngủ trước. Đến khoảng 01 giờ ngày 16/3/2022, S để phòng trọ của mình cho H và H2 ngủ lại, S chuẩn bị đi về nhà của mình ở phường H, thị xã Bến Cát thì H rủ S tiếp tục sử dụng ma túy của H đem theo. Sau khi sử dụng ma túy, S về nhà, đến khoảng 06 giờ cùng ngày thì quay lại phòng số 02 nhà trọ Vương Huy Dũng, rồi điện thoại nhờ P đến lấy xe mô tô của S đi mua đồ ăn sáng giúp. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, H2 còn đang ngủ trên gác, H lấy trong túi quần ra 01 gói nylon và 01 túi nylon chứa ma túy đá rủ S cùng sử dụng để kiểm tra chất lượng ma túy trước khi mua bán. H lấy một phần ma túy trong gói nylon bỏ vào bộ dụng cụ cùng S sử dụng, phần ma túy còn dư thì H hàn kín lại để cạnh túi nylon chứa ma túy, trên nền phòng trọ. Trong lúc sử dụng ma túy, H nói số lượng ma túy đem theo có giá 5.000.0000 đồng. S nói sẽ lấy hết số ma túy của H nhưng trả trước 2.000.000 đồng, nợ lại 3.000.000 đồng thì H nói để H suy nghĩ rồi đi lên gác. S lấy số ma túy đá của H đem bỏ vào trong một hộp giấy màu đen in chữ Samsung Galaxy S10+ để trên nền nhà rồi ngồi chơi trò chơi trên điện thoại. Sau khi P mua đồ ăn sáng đem về thì thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đang có sẵn ma túy và được S rủ, nên P tự lấy sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, P ngồi chơi điện thoại, S lấy hộp giấy màu đen in chữ Samsung Galaxy S10+ có chứa ma túy đem cất giấu vào ngăn thứ nhất của kệ inox, để dưới gầm bếp nấu ăn phía bên trái theo hướng từ ngoài cửa phòng vào, rồi ngồi chơi điện thoại cùng P. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi S, H, H2 và P đang ở trong phòng thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện ma túy.
Phan Dương H khai: Trưa ngày 15/3/2022, H chở H2 đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến hồ Dầu Tiếng chơi. Khi đi đến địa bàn phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát thì xe của H bị hư nên H có gọi điện thoại cho S nhờ S đẩy xe đi sửa. Sau đó, S dẫn H và H2 về phòng trọ của S nghỉ ngơi. Khoảng 01 giờ ngày 16/3/2023, S có rủ H sử dụng ma túy của S 01 lần tại phòng trọ của S. Đối với số lượng ma túy thu giữ được tại phòng trọ của S thì H không biết của ai hay khẳng định của S. Đối với những nội dung tin nhắn giữa S và H trước ngày 15/3/2022 có sử dụng những từ như “đồ”, “nồi” là mua bán trái cây, quần áo và xoong nồi.
Võ Thị Tuyết H2 khai: Trưa ngày 15/3/2022, H chở H2 đi chơi. Khi đi đến địa bàn thị xã Bến Cát thì xe của H bị hư nên H gọi điện thoại cho S nhờ S đẩy xe đi sửa. Sau đó, S dẫn H và H2 về phòng trọ của S nghỉ ngơi. Đến khoảng 18 giờ ngày 15/3/2022, H2 nghe H hỏi S có bộ đồ nghề không thì S đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên, H2 không biết ma túy của ai và ai là người bỏ ma túy vào nỏ nhưng sau đó H2, H và S cùng nhau sử dụng 01 lần tại phòng trọ của S. Đối với lượng ma túy thu giữ được tại phòng trọ của S thì H2 nghe S khai là của S.
Theo Kết luận giám định số 160/MT-PC09 ngày 23/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là M1=2,0881gam, M2= 30,2872gam, tổng cộng 32,3753gam loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là: 32,0856 gam Methamphetamine.
Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 16/3/2022: Trần Hữu S, Phan Dương H, Võ Thị Tuyết H2 và Nguyễn Minh P dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 16/6/2022, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2022/QĐ-TA đối với Phan Dương H về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Ngày 20/4/2022, Công an thị xã Bến Cát ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56 và 57/QĐ-XPVPHC đối với Võ Thị Tuyết H2 và Nguyễn Minh P về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, phạt tiền mỗi đối tượng là 1.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 208/CT-VKSBC ngày 02/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố bị cáo Trần Hữu S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa 27/11/2023, bị cáo Trần Hữu S khai: Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 15/3/2022, tại phòng số 2, nhà trọ Vương Dương Dũng (do Trần Hữu S thuê), thuộc khu phố 3, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, Trần Hữu S đã có hành vi cùng với Phan Dương H, Võ Thị Tuyết H2 sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa ngày 27/11/2023, Võ Thị Tuyết H2 có lời khai thống nhất với lời khai của bị cáo Trần Hữu S, và xác định chỉ sử dụng ma túy 01 lần vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 15/3/2022, sử dụng cùng thời điểm với Trần Hữu S và Phan Dương H. Riêng số ma túy thì H2 không rõ là của ai.
Phan Dương H vắng mặt trong suốt quá trình xét xử mà không có lý do chính đáng. Căn cứ vào lời khai trong quá trình tố tụng thì Phan Dương H xác định chỉ sử dụng ma túy 01 lần cùng với Trần Hữu S vào lúc 01 giờ sáng ngày 16/3/2022 tại phòng trọ do Trần Hữu S thuê, chứ Phan Dương H không thừa nhận có sử dụng ma túy với Trần Hữu S và Võ Thị Tuyết H2 vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 15/3/2022.
Xét lời khai của Phan Dương H và Võ Thị Tuyết H2 là có mâu thuẫn về thời điểm sử dụng ma túy, nhưng quá trình điều tra chưa được tiến hành đối chất làm rõ. Do đó HĐXX đã trả hồ sơ điều tra bổ sung các nội dung sau đây:
- Lấy lời khai, đối chất giữa Võ Thị Tuyết H2 và Phan Dương H để làm rõ về thời điểm sử dụng ma túy tại nhà phòng trọ do Trần Hữu S thuê là khi nào?
- Làm rõ việc Trần Hữu S có phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hay không?
Tại Công văn số 109/CV-CATT ngày 30/11/2023, Công an thị trấn Tân Quới xác định hiện Phan Dương H có đăng ký thường trú tại tổ 6, khóm Tân Lợi, thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Hiện H đã bỏ địa pH2 khoảng 02 năm nay, không ai biết H đang làm gì, ở đâu.
Tại Công văn số 67/CV-VKSBC ngày 08/01/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã giữ nguyên nội dung truy tố tại Cáo trạng số 208 ngày 02/11/2023 đối với bị cáo Trần Hữu S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 249 và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa ngày 24/01/2024:
- Bị cáo trình bày: Giữ nguyên các lời khai đã trình bày như tại phiên tòa ngày 27/11/2023. Bị cáo đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định, và không có bất cứ yêu cầu gì.
- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Hữu S về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 11 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 08 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
* Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo không tranh luận.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi đã gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Dương H:
Xét trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Phan Dương H đã vắng mặt tại nơi cư trú và hiện không rõ địa chỉ hiện nay ở đâu (có xác nhận của Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh V). Do vậy, HĐXX căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để xét xử vắng mặt đối với Phan Dương H.
Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:
Tại phiên toà ngày 27/11/2023 và ngày 24/01/2024, bị cáo S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
S và Phan Dương H có mối quan hệ quen biết nhau. Võ Thị Tuyết H2 là bạn của H, còn Nguyễn Minh P là bạn của S. Khoảng 11 giờ ngày 14/3/2022, S điện thoại cho H đặt mua 2.000.000 đồng ma túy đá và hẹn ngày 15/3/2022 sẽ nhận ma túy tại phòng trọ của S. Khoảng 11 giờ ngày 15/3/2022, S nhận được điện thoại của H nói đi cùng H2 đến khu vực ngã ba Lăng Xi thuộc phường Tân Định, thị xã Bến Cát thì xe hỏng, kêu S đến đón. Khoảng 16 giờ cùng ngày, S dẫn H và H2 về phòng số 02, nhà trọ Vương Huy Dũng của S ngồi chơi trên gác.
Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 15/3/2022, tại phòng số 2, nhà trọ Vương Dương Dũng (do Trần Hữu S thuê), bị cáo Trần Hữu S đã có hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình có sẵn trong phòng đưa cho H2 cùng sử dụng.
Đến khoảng 01 giờ ngày 16/3/2022, S để phòng trọ của mình cho H và H2 ngủ lại, S đi về nhà riêng của mình ở phường H, thị xã Bến Cát để ngủ. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày 16/3/2023 thì S quay lại phòng số 02 nhà trọ Vương Huy Dũng, rồi điện thoại nhờ P đến lấy xe mô tô của S đi mua đồ ăn sáng giúp. Sau khi P mua đồ ăn sáng đem về thì thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đang có sẵn ma túy và được S rủ, nên P tự lấy sử dụng.
Sau khi sử dụng ma túy, P ngồi chơi điện thoại, S lấy hộp giấy màu đen in chữ Samsung Galaxy S10+ có chứa ma túy đem cất giấu vào ngăn thứ nhất của kệ inox, để dưới gầm bếp nấu ăn phía bên trái theo hướng từ ngoài cửa phòng vào, rồi ngồi chơi điện thoại cùng P. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi S, H, H2 và P đang ở trong phòng thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện ma túy.
Theo Bản Kết luận giám định số 160/MT-PC09 ngày 23/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là M1=2,0881gam, M2= 30,2872gam, tổng cộng 32,3753gam loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là: 32,0856 gam Methamphetamine.
Do đó, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Trần Hữu S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 249 và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;.
Xét mặc dù bị cáo Trần Hữu S thừa nhận có tổ chức cho Phan Dương H và Võ Thị Tuyết H2 sử dụng ma túy vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 15/3/2022, nhưng Phan Dương H không thừa nhận có sử dụng ma túy với S, H2 vào thời điểm này. Sau khi TAND thị xã Bến Cát trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung thì VKSND thị xã Bến Cát cũng không có cơ sở tiến hành đối chất do không rõ nơi cư trú hiện nay của H. Do vậy, lời khai thừa nhận này của bị cáo S là không phù hợp với các các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên VKSND thị xã Bến Cát không truy tố bị cáo S với tình tiết “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp.
Bị cáo S đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, nguyên nhân làm các tội phạm khác nảy sinh, gây nguy hại cho xã hội, mất an ninh trật tự tại địa pH2. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật gây ra nhiều hậu quả cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Cần tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 hộp giấy hiệu Charme No.1 New York bên trong có 01 cân điện tử màu đen hiệu Digital Scale Not Legal For Trace; 02 kéo bằng kim loại, 01 hộp giấy màu đen ghi chữ Samsung Galaxy S10+, mẫu vật được hoàn lại sau giám định 32,0856 gam Methamphetamine.
- Cần trả lại: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 2F, màu bạc cho Phan Dương H và 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh cho Trần Hữu S;
Đối với Phan Dương H, xét thấy không đủ tài liệu, chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ Điều 46; Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Hữu S 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Trần Hữu S phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 17 (mười bảy) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17/3/2022.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy đối với:
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
+ 01 hộp giấy hiệu Charme No.1 New York bên trong có 01 cân điện tử màu đen hiệu Digital Scale Not Legal For Trace; 02 kéo bằng kim loại;
+ 01 hộp giấy màu đen ghi chữ Samsung Galaxy S10+,
+ 01 bì thư niêm phong bên ngoài ghi vụ số 160/PC09 có chữ ký của người bị bắt Trần Hữu S, người chứng kiến Phan Dương H, Võ Thị Tuyết H2, Nguyễn Minh P, cán bộ niêm phong Trần Công Tiến, Đại úy Nguyễn Thanh Hùng (Phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ của Công an phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (theo Kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 23/3/2022);
- Trả lại các tài sản sau: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 2F, màu bạc (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) cho Phan Dương H; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh (bị vỡ màn hình, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) cho Trần Hữu S;
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2023 của Công an thị xã Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Hữu S phải nộp 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Công an thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Các bị cáo; - Lưu: VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Phước Thành |