vanban.org

Bản án 16/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Võ Tuấn A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST
Ngày 16-01-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 364/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Võ Tuấn A, sinh năm 2001 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: thôn ĐH, xã TH, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: như trên; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (sinh năm 1978) và bà Võ Thị Thúy C (sinh năm 1976); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/9/2023 đến ngày 30/10/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện trú tại: thôn ĐH, xã TH, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

- Bị hại: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1994; địa chỉ: đường CT, Phường B, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1978 và bà Võ Thị Thúy C, sinh năm 1976, địa chỉ: thôn ĐH, xã TH, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (bà C có mặt, ông D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Võ Tuấn A là sinh viên trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu và thuê trọ tại địa chỉ số đường CT, Phường B, thành phố VT. Ngày 16/9/2023, khi đi vất rác Tuấn A nhặt được 01 (một) chìa khoá xe mô tô Smartkey màu đen, hiệu HONDA ở trước cửa nhà trọ. Tuấn A bấm thử thì xác định được chìa khóa này là của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu xám-đen, số máy JF95E1015368, số khung RLHJF9517LY012659, biển số 72C2 – 400.25 đang dựng ở tầng trệt nhà số đường CT. Tuấn A để ý thì biết được chiếc xe trên là của anh Nguyễn Ngọc T (sinh năm 1994; Nơi thường trú: TDP 4B, thị trấn PR, huyện BY, tỉnh Lào Cai) sinh sống ở tầng ba, cùng nhà số đường CT, Phường B, thành phố VT. Tại thời điểm này, Tuấn A bị nhiều người đòi nợ nên đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên để bán lấy tiền trả nợ. Trưa ngày 18/9/2023, thấy nhà trọ vắng người, Tuấn A đã sử dụng chìa khóa nhặt được, mở khóa lấy trộm chiếc xe trên chạy xe hướng về thành phố BR. Trên đường đi sợ bị phát hiện, Tuấn A đã tháo biển số 72C2 – 400.25 vất xuống sông ở khu vực cầu CM, Phường MH, thành phố VT và mang xe đến tiệm sửa xe thuộc ấp Đ, xã HL, thành phố BR, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của anh Nguyễn Trung V (sinh năm 1995; Nơi thường trú: xã HL, thành phố BR, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) để sơn xe thành màu trắng. Khi thấy xe không có biển số anh V có hỏi về nguồn gốc của xe thì Tuấn A nói xe mua lại, đang làm thủ tục sang tên nên tháo biển số, anh V không nghi ngờ gì và nhận sơn lại xe với giá 3.500.000 đồng. Đến ngày 23/9/2023, Tuấn A đến lấy xe và trả tiền cho anh V. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe mô tô trên đến gặp anh Dương Kỳ Nh (sinh năm 1990; Nơi thường trú: Khu phố B, phường PH, thành phố BR, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) thuê một xe ô tô biển số 72A – 699.14 để đi lại và gửi lại chiếc xe SH trên ở gara của anh Nh tại đường NHC, xã PhT, thành phố BR, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngày 25/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT tiến hành mời Nguyễn Võ Tuấn A về làm việc. Tuấn A đã thừa nhận toàn bộ hành vi như trên, tự nguyện giao nộp lại chìa khoá và xe mô tô. Lời khai của Tuấn A phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 144/KL-HĐĐG-TTHS ngày 29 tháng 9 năm 2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sư - UBND thành phố VT kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, Màu sơn: Xám – Đen; Số máy: JF95E1015368; Số khung: RLHJF9517LY012659; BKS: 72C2 – 400.25 có giá trị là: 67.500.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, Màu sơn: Trắng; Số máy: JF95E1015368; Số khung: RLHJF9517LY012659, không gắn biển số xe.

- 01 (một) chìa khoá xe mô tô Smartkey hiệu HONDA, màu đen.

- 01 (một) cái quần dài, màu đen. (Tuấn A mặc khi lấy trộm xe)

- 01 (một) USB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh đối tượng lấy trộm xe mô tô BKS: 72C2 – 400.25 vào ngày 18/9/2023 tại đường CT, Phường B, thành phố VT (chuyển theo hồ sơ vụ án)

Ngày 02/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chìa khoá và xe mô tô trên cho anh Nguyễn Ngọc T.

Vật chứng, tài sản còn lại được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT quản lý, chờ xử lý.

* Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Tú đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường của gia đình bị cáo, không có yêu cầu thêm.

Tại Cáo trạng số 355/CT-VKSVT ngày 22-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT truy tố Nguyễn Võ Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định ta ̣i điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng: điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cái quần dài, màu đen.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được ở bên ngoài đi làm lo cho vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng trưa ngày 18/9/2023, tại tầng trệt nhà trọ ở địa chỉ số đường CT, Phường B, thành phố VT, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu xám – đen, số máy JF95E1015368, số khung RLHJF9517LY012659, biển số 72C2 – 400.25 trị giá 67.500.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc T.

Như vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT.

Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội , trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được Pháp luật bảo vệ. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm Hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường các chi phí để bị hại khắc phục thiệt hại, bị hại có đơn xin bãi nãi cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tuyên hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo thì thấy: bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và tài sản bị chiếm đoạt cũng đã thu hồi được để trả lại cho bị hại, đồng thời bị cáo hiện đang là sinh viên. Đối chiếu với quy định về án treo thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và tạo cho bị cáo một cơ hội để bị cáo được ở bên ngoài tiếp tục được đi học và cũng thể hiện được sự nhân đạo của Pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, mẹ của bị cáo là bà Võ Thị Thúy C tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải trả lại; bị hại xác nhận đã nhận số tiền bồi thường tổng cộng là 25.000.000 đồng, xin bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) cái quần dài, màu đen của bị cáo mặc khi lấy trộm xe, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Trung V là người thay đổi màu sơn xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125 cho bị cáo và anh Dương Nh Kỳ cho bị cáo gửi xe mô tô tại Gara của mình, không biết đó là xe của bị cáo chiếm đoạt của người khác nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT không xử lý về hành vi của anh V và anh Kỳ là có căn cứ.

Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Võ Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Võ Tuấn A 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã TH, thị xã PM giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Tuấn A vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Tuấn A cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cái quần dài, màu đen.

(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố VT theo Biên bản giao nhận vật chứng số 59/ BB.CCTHAngày 29 tháng 11 năm 2023).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (đối với người có mặt tại phiên tòa); tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai (đối với người vắng mặt tại phiên tòa) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ