vanban.org

Bản án 16/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án * Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản - phạm tội sử dụng…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
Bản án số: 16/2024/HS- ST
Ngày: 24-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Nam

Bà Lê Thị Nhớ

,

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê Ngọc Linh- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 181/2023/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng H (Tên gọi khác: không) - Sinh ngày 09 tháng 05 năm 1993 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: A đường Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (s) và bà Nguyễn Thị T1 (s); có vợ là Huỳnh Thị Diễm T2; tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

- Bị hại: Anh Nguyễn Thành N, sinh năm: 1970; địa chỉ: A L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thành N, sinh năm: 1988; địa chỉ: tổ B phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2022, Nguyễn Hoàng H quen biết anh Nguyễn Thành N (hay còn gọi N (1970)) qua việc cùng tham gia đầu tư tài chính tại sàn E. H trực tiếp hướng dẫn và hỗ trợ anh N (1970) tạo tài khoản có số Id 50124412 trên sàn Exness để anh N (1970) sử dụng bằng điện thoại Samsung Galaxy A8 có số điện thoại 0795547785 của H và được lưu trên thiết bị di động khi đăng nhập không cần hỏi lại mật khẩu. Quá trình giao dịch, hàng tháng sàn E sẽ trả lại cho chủ tài khoản 40% phí giao dịch giữa sàn với chủ tài khoản thì chủ tài khoản anh N (1970) sẽ cho H 10% tiền hoa hồng tương ứng.

Do tự đăng nhập vào tài khoản anh N (1970), H biết trong tài khoản anh N có nhiều tiền nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Tuy nhiên, theo quy định khi chuyển tiền trên sàn Exness thì yêu cầu tài khoản ngân hàng phải trùng tên với chủ tài khoản sàn E và phải chuyển tiền về đúng tài khoản có tên “NGUYEN THANH NHAN” thì mới thực hiện được việc chuyển tiền.

Ngày 10/5/2023 tại quán C đường H, thành phố Đà Nẵng, H nhờ anh Nguyễn Thành N (hay còn gọi N (1988) là bạn mở online tài khoản tại Ngân hàng TMCP T3 (viết tắt T4) với lý do để chạy đủ doanh số. Tưởng thật, anh N (1988) đồng ý. Anh N (1988) cung cấp thông tin cá nhân và chụp ảnh để H tạo online tài khoản ngân hàng có số 00002401758 mang tên Nguyễn Thành N (1988) do H quản lý và sử dụng. Các thao tác đăng ký thông tin của anh N (1988) đều được H thực hiện qua điện thoại di động S A8. Sau đó, H sử dụng thông tin của anh N (1988) mở thêm 02 tài khoản khác số 47455918888 và số 76926021988 tại Ngân hàng T4 .

Ngày 19/5/2023, lợi dụng lỗ hổng bảo mật thay đổi số điện thoại mà không nhận OTP về số điện thoại của tài khoản trên sàn E, Hải đăng n vào tài khoản sàn Exness của anh N (1970) thay đổi số điện thoại 0903590470 của tài khoản anh N (1970) sang số điện thoại 0587.472280 của H.

Đến ngày 21/5/2023 tại nhà số A đường Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, H sử dụng điện thoại di động S A8 kết nối Internet đăng nhập tài khoản có số ID 50124412 của sàn E mang tên Nguyễn Thành N (1970) thực hiện 02 lệnh rút tiền chuyển về tài khoản số 47455918888 mở tại Ngân hàng TMCP T3 của Nguyễn Thành N (1988) dưới hình thức Internet B, cụ thể:

Lần 1: Lúc 22 giờ 16 phút, rút số tiền 8.000 USD được sàn Exness quy đổi thành 187.612.072 đồng

Lần 2: Lúc 22 giờ 25 phút, rút 8.493 USD được sàn Exness quy đổi thành 199.173.772 đồng

Tổng cộng 16.493 USD tương đương số tiền 386.785.944 đồng

Ngày 23/5/2023, do tài khoản anh Nguyễn Thành N (1988) được mở bằng hình thức online nên bị giới hạn về chuyển tiền (chỉ thực hiện được 100.000.000 đồng/tháng) nên H cùng với anh N (1988) đến Ngân hàng T4 đường Đ, thành phố Đà Nẵng thực hiện định danh tài khoản nâng hạn mức số tiền chuyển khoản. Bên cạnh đó, để tránh việc anh N (1970) và cơ quan chức năng phát hiện, Hải đăng nhập tài khoản ngân hàng của anh N (1988) thay đổi địa chỉ thành 233/9 DUONG TAN THOI HIEP 7, PHUONG TAN THOI, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp đến, H chuyển số tiền 386.785.944 đồng đã chiếm đoạt đến ví điện tử VNDC để mua đổi tiền ảo VNDC với giá 01 VND = 01 VNDC và ngược lại. Từ ngày 22/5/2023 đến ngày 30/5/2023, H thực hiện giao dịch bán và thu hồi lại số tiền 386.785.944 đồng; đồng thời, H chuyển số tiền trên về 04 tài khoản Ngân hàng của H gồm: Tài khoản số 0905529846 mở tại Ngân hàng TMCP Q; tài khoản số 4666656666 mở tại Ngân hàng TMCP S1, tài khoản số 040109438555 mở tại Ngân hàng TMCP S2, tài khoản số 56510000128398 mở tài Ngân hàng TMCP Đ. Sau đó, H rút tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Ngày 21/5/2023, anh Nguyễn Thành N (1970) kiểm tra tài khoản trên sàn E phát hiện bị mất tiền nên đã làm đơn trình gửi đến Công an thành phố Đ báo sự việc.

Vật chứng tạm giữ: + 21 trang giấy A4 ghi lại những nội dung liên quan đến lịch sử cuộc gọi, lệnh rút tiền của tài khoản Exness, lịch sử giao dịch của các Ngân hàng được chụp ảnh lại trên 02 điện thoại di động H giao nộp (lưu kèm theo hồ sơ vụ án); + 03 trang giấy A4 ghi lại lịch sử giao dịch 03 tài khoản Ngân hàng TMCP T3 của anh Nguyễn Thành N (1988) mà Nguyễn Hoàng H đã nhờ lấy thông tin cá nhân để đăng ký (lưu kèm theo hồ sơ vụ án);

+ 01 điện thoại di động S A8 imei 352158012268088 và 01 điện thoại di động S J7 Prime imei 357651080728099 (do Nguyễn Hoàng H giao nộp đã sử dụng vào việc phạm tội) chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng quản lý theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Ngày 06/7/2023, Nguyễn Hoàng H đã thỏa thuận trả lại cho anh Nguyễn Thành N (1970) số tiền 386.785.944 đồng đã chiếm đoạt. Anh N đã nhận tiền và xin giảm nhẹ hình phạt cho H.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố: Nguyễn Hoàng H về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 290 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản".

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Hoàng H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động S A8 imei 352158012268088 và 01 điện thoại di động S J7 Prime imei 357651080728099 là phương tiện bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội;

- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: + 21 trang giấy A4 ghi lại những nội dung liên quan đến lịch sử cuộc gọi, lệnh rút tiền của tài khoản Exness, lịch sử giao dịch của các Ngân hàng được chụp ảnh lại trên 02 điện thoại di động H giao nộp; + 03 trang giấy A4 ghi lại lịch sử giao dịch 03 tài khoản Ngân hàng TMCP T3 của anh Nguyễn Thành N (1988) mà Nguyễn Hoàng H đã nhờ lấy thông tin cá nhân để đăng ký;

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cứu xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại anh Nguyễn Thành N xin Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân bị cáo phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoàng H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Trong ngày 21/5/2023 tại nhà số A đường Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Hoàng H đã sử dụng điện thoại di động S A8 có kết nối mạng Internet truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của anh Nguyễn Thành N (1970) có số Id 50124412 sử dụng để giao dịch đầu tư tài chính trên sàn Exness thực hiện 02 lần rút tiền dưới hình thức Inernet Banking chuyển tiền vào tài khoản anh Nguyễn Thành N (1988) đã chiếm đoạt tổng cộng số tiền 386.785.944 đồng (Ba trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi bốn đồng) của anh N (1970), cụ thể:

Lần 1: Lúc 22 giờ 16 phút, rút số tiền 8.000 USD được sàn Exness quy đổi thành 187.612.072 đồng

Lần 2: Lúc 22 giờ 25 phút, rút 8.493 USD được sàn Exness quy đổi thành 199.173.772 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 290 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng H có hành vi sử dụng điện thoại di động S A8 có kết nối mạng Internet truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của anh Nguyễn Thành N (1970) thực hiện 02 lần rút tiền dưới hình thức Inernet Banking chuyển tiền vào tài khoản anh Nguyễn Thành N (1988) nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sư.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo thành khẩn, khai nhận đúng sự thật toàn bộ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối lỗi và mong muốn sửa chữa lỗi lầm nên mặc dù hoàn cảnh có khó khăn nhưng đã khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra cho bị hại và được người bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, người bị hại thiết tha xin Hội đồng xét xử cứu xét đến nguyên nhân bị cáo phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Đối với bị cáo cần thiết phải cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/7/2023, Nguyễn Hoàng H đã thỏa thuận trả lại cho anh Nguyễn Thành N (1970) số tiền 386.785.944 đồng đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa, A N khẳng định đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 điện thoại di động S A8 imei 352158012268088 và 01 điện thoại di động S J7 Prime imei 357651080728099 là phương tiện bị cáo Nguyễn Hoàng H sử dụng vào việc phạm tội thì cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với: 21 trang giấy A4 ghi lại những nội dung liên quan đến lịch sử cuộc gọi, lệnh rút tiền của tài khoản Exness, lịch sử giao dịch của các Ngân hàng được chụp ảnh lại trên 02 điện thoại di động H giao nộp; 03 trang giấy A4 ghi lại lịch sử giao dịch 03 tài khoản Ngân hàng TMCP T3 của anh Nguyễn Thành N (1988) mà Nguyễn Hoàng H đã nhờ lấy thông tin cá nhân để đăng ký thì cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Hoàng H không bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 290 của Bộ luật hình sự.

Về những vấn đề khác có liên quan đến vụ án: Đối với Nguyễn Thành N (sinh năm: 1988) đã sử dụng thông tin cá nhân mở tài khoản ngân hàng TMCP T3 để Nguyễn Hoàng H sử dụng vào việc phạm tội nhưng N không biết nên Cơ quan CSĐT Công an quận T, thành phố Đà Nẵng không xử lý hình sự là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động S A8 imei 352158012268088;

+ 01 (một) điện thoại di động S J7 Prime imei 357651080728099.

(Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/12/2023, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý).

- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: + 21 trang giấy A4 ghi lại những nội dung liên quan đến lịch sử cuộc gọi, lệnh rút tiền của tài khoản Exness, lịch sử giao dịch của các Ngân hàng được chụp ảnh lại trên 02 điện thoại di động H giao nộp; + 03 trang giấy A4 ghi lại lịch sử giao dịch 03 tài khoản Ngân hàng TMCP T3 của anh Nguyễn Thành N (1988) mà Nguyễn Hoàng H đã nhờ lấy thông tin cá nhân để đăng ký;

2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ