vanban.org

Bản án 16/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mê Linh, TP. Hà Nội Tuyên án 07/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bùi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao Bùi Văn Hà cho UBND xã C, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bùi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST
Ngày 07/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Kiều Xuân Mai

Ông Trần Văn Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn H, sinh năm 1992 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã C, huyện Mê Linh, Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá : Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn N và bà Vũ Thị S; có vợ là Nguyễn Thị L và 02 con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/11/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

-Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955 (đã chết)

Nơi cư trú: Xóm 2, thôn N, xã C, huyện Mê Linh, Hà Nội.

-Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1966, có mặt

Nơi cư trú: Xóm 2, thôn N, xã C, huyện Mê Linh, Hà Nội.

*Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Hòa:

-Bà Kiều Thị Th, sinh năm 1967 (vợ ông H)

-Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1984 (con ông H)

-Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1986 (con ông H).

Đều cư trú: Xóm 2, thôn N, xã C, huyện Mê Linh, Hà Nội.

* Người đại diện theo ủy quyền của bà Th, chị D là: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm 2, thôn N, xã C, huyện Mê Linh, Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, Bùi Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng C, điều khiển xe ô tô tải loại 13 tấn, biển kiểm soát 20H - 002.58 chở cát xây dựng theo hướng từ Y, Vĩnh Phúc về công trình xây dựng Trường THPT Yên Lãng ở thôn B, xã L, huyện Mê Linh, Hà Nội. Khi đến gần ngã tư giao nhau giữa đê sông Hồng để vào thôn X, xã C khoảng 20 - 30m, H điều khiển xe ô tô đi lấn 1/3 thân xe sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình với tốc độ khoảng hơn 30km/h. Lúc này H quan sát thấy bên tay phải của mình hướng từ thôn X, xã C có 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30Z3 - 3491 do ông Nguyễn Văn Th điều khiển chở phía sau là ông Nguyễn Văn H đang đi tới, cách ngã tư khoảng 10m. H nghĩ ông Th sẽ nhường đường nên không giảm tốc độ mà vẫn điều khiển xe ô tô đi qua ngã tư. Khi xe ô tô của H đi vào ngã tư thì xe mô tô do ông Th điều khiển cũng đi vào ngã tư và đã đi sang đến phần đường bên trái theo chiều đi của H. Thấy vậy, H đạp phanh xe và điều khiển xe ô tô đánh lái sang bên trái theo chiều đi của mình để tránh xe mô tô nhưng do khoảng cách gần nên phần đầu bên phải xe ô tô đã đâm vào phần đầu tay lái bên trái xe mô tô. Hậu quả, xe mô tô bị đổ xuống mặt đường, bánh xe ô tô phía trước bên phải chèn và đẩy rê về phía trước 6,76 mét; ông Th ngã văng ra khỏi xe mô tô và bị sây sát nhẹ. Ông H ngã xuống đường và bị bánh xe bên phải trục giữa của xe ô tô chèn vào phần bụng gây thương tích nặng. Lúc này, H dừng xe lại và xuống xe thì thấy ông H bị mắc kẹp ở bánh xe ô tô nên đã điều khiển xe ô tô lùi lại khoảng 50cm để người dân đưa ông H ra. Ông H được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Mê Linh và được chẩn đoán đã tử vong ngoại viện. Còn ông Th chỉ bị sây sát nhẹ hai đầu gối nên về nhà điều trị. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H biết tin ông H đã tử vong nên đến Công an huyện Mê Linh đầu thú.

Sau khi xảy ra tai nạn, Công an huyện Mê Linh tiến hành đo nồng độ cồn, xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu của bị can Bùi Văn H và ông Nguyễn Văn Th. Kết quả: Trong hơi thở của bị can Bùi Văn H và ông Nguyễn Văn Th không có nồng độ cồn, âm tính với các chất ma tuý.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường dốc lên trên đê tả sông Hồng của đường liên xã thuộc địa phận thôn Xa Khúc, xã Chu Phan, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Khu vực xảy ra tai nạn là ngã tư giao nhau giữa đường liên xã và đường đi vào thôn Xa Khúc. Đường liên xã được trải bê tông rộng 5,5m, điểm mở vào thôn Xa Khúc rộng 16m. Lấy góc bên phải phía trước của điếm canh đê Xa Khúc làm điểm mốc. Lấy mép bên trái đường bê tông liên xã hướng từ UBND xã Chu Phan đi xã Thạch Đà làm mép đường chuẩn.

- Từ điểm mốc đo chiếu vuông góc xuôi theo dọc đường về hướng UBND xã Chu Phan 74,2m là đầu vết hỗn hợp giữa vết phanh và vết cà sát (ký hiệu C). Vết hỗn hợp (C) có KT: (6,76x0,8)m. Từ đầu vết hỗn hợp đo ra mép đường chuẩn là 1,7m, cuối vết hỗn hợp trùng với lốc máy bên phải của xe mô tô BKS: 30Z3 - 3491, đo ra mép đường chuẩn là 0,78m.

- Từ đầu vết hỗn hợp (C) đo chiếu vuông góc dọc theo lòng đường về hướng xã Thạch Đà 1,05m là đầu trục sau bên phải của xe ô tô biển kiểm soát: 20H - 002.58, đầu xe ô tô hướng về xã Thạch Đà, đuôi xe hướng về UBND xã Chu Phan. Dàn bánh sau xe ô tô trùng với khu vực điểm mở đi vào thôn Xa Khúc. Từ đầu trục bên phải phía sau xe ô tô đo vào mép đường chuẩn là 1,56m, đầu trục trước bên phải xe ô tô đo vào mép đường là 0,96m. Từ đầu trục sau bên phải xe ô tô đo chiếu vuông góc dọc theo lòng đường về hướng xã Thạch Đà 1,27m là tâm đám tổ chức nghi máu và mô người (ký hiệu M). Đám M có kích thước (1,46x0,6)m, tâm M đo vào mép đường chuẩn là 1,1m.

- Từ đầu trục sau bên phải xe ô tô đo chiếu vuông góc dọc theo lòng đường về hướng xã Thạch Đà 5,48m là trục sau xe ô tô biển kiểm soát 30Z3 - 3491. Xe mô tô đổ nghiêng sang bên phải, đầu xe hướng về thôn Xa Khúc, đuôi xe hướng về đê tả sông Hồng. Từ trục sau xe mô tô đo ra mép đường chuẩn là 1,3m, trục trước đo ra mép đường chuẩn là 0,3m.

- Từ điểm mở vào thôn Xa Khúc đo về hướng UBND xã Chu Phan 46,5m là cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Cột biển báo nằm ngoài ria đường bên phải theo hướng từ UBND xã Chu Phan đi xã Thạch Đà. Từ cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên 12m là 05 đường gờ giảm tốc màu vàng (hướng về xã Thạch Đà), tiếp theo 17,2m hướng về xã Thạch Đà là 05 đường gờ giảm tốc màu vàng. Từ điểm mở vào thôn xã Thạch Đà 02m là 05 đường gờ giảm tốc màu vàng. Tại ria đường bên trái đầu dốc đê của đường từ đê sông Hồng đi vào thôn Xa Khúc có cắm biển báo giới hạn trọng tải 12 tấn, ngoài ra trên trục đường này từ đầu dốc đến ngã tư không còn biển báo nào khác.

* Kết quả khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn H:

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 1499/1489/KLGĐTT-TTPY ngày 06/12/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Hà Nội xác định:

Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm: Sây sát da đuôi cung lông mày trái, bả vai phải, da lưng, da vùng ngực, bụng, mạn sườn hai bên, mu bàn tay phải. Sây sát da mặt sau 1/3 giữa cánh phải. Rách da, lóc da lộ gân cơ cẳng tay phải. Qua vết rách da thấy gãy xương cẳng tay phải. Khung chậu mất vững.

Sây sát da vùng mào chậu phải, mặt ngooài 1/3 đùi trái đến hố chậu trái. Trên vết sây sát da này có vết rách da vùng bìu trái và vết rách da mào chậu phải qua nếp lằn bẹn phải, bìu phải. Qua vết rách da thấy lộ tinh hoàn, tinh hoàn thoát ra ngoài qua vết rách.

Sây sát da mặt ngoài đùi phải, mặt trước gối phải, mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân phải. Sây sát da mặt trước gối trái.

Vùng ngực, bụng, khung chậu va đập, chèn ép với vật tày lực tác động rất mạnh gây: Bầm tụ máu tổ chức dưới da vùng ngực, bụng, khung chậu; Gãy bên xương sườn IV, V, VI, VII, VIII, IX, X bên trái; Gãy cung sau xương sườn VIII, IX, X, XI bên trái; Ổ bụng có 500ml máu; Hố ngực trái có 300ml máu; Rách cơ hoành; Mạc nối lớn thấm nhiều máu; Bầm dập các quai ruột;

Dập tụy, vỡ gan, vỡ thận trái, vỡ lách, vỡ bàng quang; Gãy đốt sống lưng D10-D11;

Vỡ khớp mu.

- Kết quả giám định vi thể: Dập động mạch chủ; Dập nhu mô phổi rải rác; Dập gan, dập thận, dập tụy, dập bàng quang;

- Kết quả xét nghiệm độc chất:

+ Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Văn H giám định: Không có Ethanol.

Kết luận:

Kết luận nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn Văn H tử vong do: Đa chấn thương, chấn thương ngực, bụng, khung chậu rất nặng.

* Kết quả giám định thương tích của ông Nguyễn Văn Th:

Theo Biên bản xác minh thương tích ngày 30/11/2023 tại Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thể hiện: ông Nguyễn Văn Th vào viện lúc 08 giờ 30 phút ngày 19/11/2023 được chẩn đoán theo dõi chấn thương sọ não/sây sát da gối hai bên, gia đình ký sổ xin về nhà điều trị.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Mê Linh đã trưng cầu Trung tâm pháp y Hà Nội giám định tỷ lệ tổn hại sức khoẻ của ông Nguyễn Văn Th. Tuy nhiên, ông Th đã từ chối không đi giám định thương tích với lý do: ông Th chỉ bị sây sát nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khỏe. Ông Th không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện gây tai nạn:

- Khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát: 20H - 002.58:

+ Ốp gió bên phải trên ba đờ sốc trước không có; phía trên ốp gió này của ba đờ sốc có vết trượt bám dính chất màu đen hướng từ phải qua trái và vết trượt bám dính chất màu đen làm bong tróc sơn có hướng từ dưới lên trên; 02 vết trượt này trên diện (12 x 4)cm, điểm thấp nhất vết trượt cách mặt đất là 103cm;

+ Mặt ngoài ốp cụm đèn pha bên phải có vết trượt sát hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải KT: (9 x 9)cm;

+ Góc dưới bên phải ba đờ sốc trước có vết trượt bám dính chất màu đen, hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới KT: (3 x 1,5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 71cm, bên cạnh vết trượt này có vết trượt khác bám dính chất màu đen chiều hướng từ trái qua phải KT: (5,5 x 0,5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 76cm;

+ Mặt ngoài lốp xe phía trước bên phải có vết trượt cao su không rõ chiều hướng trên diện (23 x 16)cm.

- Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát: 30Z3 - 3491:

+ Tay phanh bên phải bị gãy dời tại chốt định vị, đầu tay phanh có dấu vết mài sát không rõ chiều hướng KT: (1,5 x 1,5)cm; vỏ bọc cao su đầu tay nắm người lái bên phải bị mài mòn cao su KT: (2 x 1)cm; ốp nhựa phía sau gương chiếu hậu bên phải có vết mài sát KT: (7 x 2)cm, đồng thời cần chân gương bị xoay lệch; mặt gương chiếu hậu bên trái bị vỡ dời khỏi thân xe; giỏ để hàng bị móp méo biến dạng, đồng thời góc phía trước bên phải giỏ hàng có vết mài sát bám dính chất bột màu trắng KT: (13 x 3)cm; đuôi chắn bùn trước bị nứt vỡ và mài sát; đầu cao su tay lái bên trái có vết trượt sát KT: (3,5 x 3)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 95cm; mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái có vết trượt sát cao su KT: (102 x 4)cm;

+ Vỏ lốc máy bên phải bị nứt vỡ trên diện (19 x 12)cm; mặt ngoài cần chân phanh có vết mài sát làm mài mòn kim loại hướng từ trên xuống dưới KT: (8 x 5)cm, đồng thời đẩy cần phanh cong biến dạng, áp sát vào lốc máy; để chân người lái bên phải bị cong đẩy áp sát vào thân xe; cao su để chân người lái bên phải bị mài mòn kim loại hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trên diện (15 x 1)cm; để chân người ngồi sau bên phải bị gãy dời khỏi thân xe; ốp cao su để chân người ngồi sau bên phải bị rách, mài mòn hoàn toàn mặt phía ngoài, lõi kim loại có vết mài sát trên diện (12 x 3)cm; ống xả xe bị móp méo biến dạng, đồng thời mặt ngoài có vết mài sát mài mòn kim loại KT: (56 x 10)cm; khung sắt để chân người lái và giảm sóc bên phải bị cong đẩy biến dạng hướng từ ngoài vào trong và mặt ngoài có vết mài sát trên diện (39 x 9)cm; mặt ngoài càng chân chống giữa bên phải có vết mài sát mài mòn kim loại KT: (3 x 2)cm; mặt ngoài bên phải vành và lốp bánh sau có vết mài sát mài mòn kim loại, cao su trên diện (15 x 5)cm; mặt ngoài bên phải giá tay cầm đuôi xe có vết mài sát mài mòn kim loại hướng từ trên xuống dưới KT: (6,5 x 2)cm;

+ Khung sắt để chân người ngồi sau bên trái bị gãy dời khỏi thân xe; khung càng bánh sau bị cong vênh; hộp xích xe bị cong vênh biến dạng hướng từ ngoài vào trong; chân chống giữa bên trái bị cong đẩy; vành bánh xe sau bị cong vênh theo hướng từ trái sang phải; cần khởi động bị gãy dời khỏi thân xe.

Theo Kết luận giám định số 8819/KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 20H-002.58 với xe mô tô biển số 30Z3-3491:

- Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài phía trên bên phải chắn đà trước xe ô tô biển số 20H-002.58 có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, phù hợp với dấu vết trượt xước, mất nhựa màu đen ở mặt ngoài phía dưới đầu tay lái bên trái xe mô tô biển số 30Z3-3491. Dấu vết va chạm ở xe mô tô tại vị trí này có chiều từ trái sang phải, từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước, mất cao su màu đen ở mặt ngoài bên phải mặt lăn và má ngoài lốp bánh trước bên phải xe ô tô biển số 20H-002.58 có chiều từ mặt lăn vào vành, phù hợp với dấu vết biến dạng, trượt, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài hộp xích và cụm chi tiết bên trái hộp xích xe mô tô biển số 30Z3-3491 (khi xe mô tô đã đổ nằm nghiêng bên phải xuống đường). Dấu vết va chạm ở xe mô tô tại các vị trí này có chiều từ trái sang phải.

2. Vị trí va chạm trên mặt đường tại hiện trường giữa xe ô tô biển số 20H-002.58 và xe mô tô biển số 30Z3-3491 thuộc phần đường bên trái theo hướng từ UBND xã Chu Phan đi xã Thạch Đà.

3. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 20H-002.58 và xe mô tô biển số 30Z3-3491 theo dấu vết phanh khi xảy ra tai nạn.

Kết quả định giá tài sản:

Theo Kết luận định giá tài sản số 108/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mê Linh kết luận:

Giá trị tài sản bị thiệt hại đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 30Z3-3491 là 4.525.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu nâu, biển kiểm soát: 30Z3 - 3491: Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn Th nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với xe ô tô tải, nhãn hiệu Dongpeng, loại 13 tấn, biển kiểm soát: 20H - 002.58: Quá trình điều tra xác định, xe ô tô trên là tài sản của bị can Bùi Văn H nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe ô tô trên cho bị can H.

Đối với ông Nguyễn Văn Th, quá trình điều tra xác định ông Th không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người bị hại là ông Nguyễn Văn Th trình bày: Sáng ngày 19/11/2023, ông điều khiển xe máy BKS 30Z3-3491 chở ông Nguyễn Văn H đi từ nhà ở thôn C, xã C lên đê Sông Hồng sau đó rẽ đi xuống đường hướng từ đê để vào thôn Xa Khúc (đoạn đường này giao với đường liên xã). Ông điều khiển xe đi trước, phía sau là xe của ông Nguyễn Văn B em trai ruột ông H đi một mình cách xe ông khoảng 5-6m. Khi xe của ông đi đến cách ngã tư khoảng 2-3m, ông quan sát thấy trên trục đường liên xã giao với đường ông đi ở bên tay trái ông có 01 xe ô tô tải đang đi vào ngã tư, cách ngã tư khoảng 10-15m. Lúc này ông thấy xe tải đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của xe ô tô. Do ông nghĩ khoảng cách từ xe ô tô đến ngã tư còn đủ an toàn để ông đi qua nên ông đã điều khiển xe máy đi qua ngã tư. Tuy nhiên khi xe máy của ông qua giữa ngã tư và sang đến phần đường bên trái của trục đường liên xã theo chiều đi của xe ô tô thì lúc này xe ô tô cũng đi đến ngã tư và phần đầu bên phải xe ô tô đã đâm ngang vào bên trái xe máy của ông. Hậu quả làm xe máy đổ ra đường, ông bị xây sát nhẹ hai đầu gối, còn ông H thì được đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Mê Linh nhưng đã tử vong. Sau khi sự việc xảy ra, do ông không bị thương tích gì nên ông đã từ chối giám định và ông không có yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhẹ hình sự cho bị cáo H.

Đại diện hợp pháp của người bị hại ông Nguyễn Văn H là anh Nguyễn Văn D trình bày: Ngày 19/11/2023, bố anh là ông Nguyễn Văn H có đi xe máy cùng ông Nguyễn Văn Th sang thôn Xa Khúc, xã Chu Phan để đi đám ma, xe máy do ông Th điều khiển chở bố anh đã xảy ra va chạm với xe ô tô do bị cáo H điều khiển, hậu quả bố anh tử vong. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo H đã bồi thường cho gia đình anh với số tiền 200.000.000đ. Nay gia đình anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 30/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố Bùi Văn H, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bùi Văn H mức án từ 18 tháng đến 24 tháng, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về tang vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mê Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 07h 30’ ngày 19/11/2023, Bùi Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng C điều khiển xe ô tô tải loại 13 tấn, BKS 20H-002.58 chở cát xây dựng theo hướng từ UBND xã Chu Phan lên đê Sông Hồng. Khi H điều khiển xe ô tô đi đến ngã tư giao nhau giữa đường đi từ đê Sông Hồng vào thôn Xa Khúc, xã Chu Phan thì xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 30Z3-3491 do ông Nguyễn Văn Th điều khiển chở phía sau là ông Nguyễn Văn H. Hậu quả ông H tử vong, ông Th bị thương nhẹ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho người bị hại do hành vi phạm tội của mình gây ra, người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo điều khiển xe ô tô đến ngã tư nơi có đường giao nhau nhưng không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn, hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, lỗi thuộc về bị cáo. Ngoài nguyên nhân chủ quan của bị cáo thì còn có nguyên nhân khách quan đó là đoạn đường xảy ra tai nạn là đường dốc lên trên đê, mặt đường đê rất hẹp nên khi gặp xe của ông Th đi đến bị cáo đã không xử lý kịp. Do vậy, xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và được người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra giữa gia đình bị hại ông Nguyễn Văn H và bị cáo đã giải quyết xong phần bồi thường dân sự. Gia đình người bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại. Đối với người bị hại là ông Nguyễn Văn Th không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại . Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mê Linh có thu giữ của bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C thấy cần trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bùi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao Bùi Văn Hà cho UBND xã C, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C (Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mê Linh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo. Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Cỡ chữ