vanban.org

Bản án 16/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 16/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b : Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/12/2023. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1235 gam Heroine au giám định hoàn lại đựng trong niêm phong s 1832/KL- KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, mặ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án : 16/2024/HS-ST.
gày 28/3/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Xuân Trường;

2. Ông Phạm Văn Thành.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm - Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần phòng 109 trụ sở Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử ơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý s : 14/2024/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 11/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đ i với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Ngọc T, inh năm 1987.

ơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt am; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Ngọc Q và bà Hoàng Thị B (Đã chết); Gia đình có 11 anh em, bị cáo là con thứ 10; vợ: chị Lò Thị N, có 02 con, lớn inh năm 2017 nhỏ inh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: + Quyết định s 919 ngày 20/8/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Kiến Xương đưa T vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục-Lao động xã hội 12 tháng, đến ngày 24/8/2010 chấp hành xong (Đã được xóa)

+ B n án s 53 ngày 10/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt T 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/6/2015, đã chấp hành xong án phí (Đã được xóa án tích).

+ B n án s 15 ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiền H i, tỉnh Thái Bình xử phạt Thọ 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/02/2020, đã chấp hành xong án phí (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 25/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. (có mặt).

* Người chứng kiến:

- Ông Bùi Công M, inh năm 1957. (vắng mặt)

Trú tại: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Ông Phạm Ngọc D, inh năm 1963. (vắng mặt)

Trú tại: thôn V, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ ơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như au: Kho ng 09 giờ 30 phút ngày 19/12/2023 tại khu vực ngã 3 đường liên xã thuộc thôn Văn Lăng, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình bắt qu tang Phạm Ngọc T, inh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình tàng trữ trái phép 0,1510 gam Heroine mục đích để sử dụng cho b n thân. Công an huyện Kiến Xương lập biên b n bắt người phạm tội qu tang và niêm phong vật chứng thu giữ của Phạm Ngọc T.

Tại b n B n kết luận giám định s 1832/KL- KTHS ngày 22/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình kết luận. Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine có kh i lượng 0,1510 gam.

Tại b n cáo trạng s 18/CT - VKSKX ngày 14/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy t bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, kho n 1, điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy t bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung b n cáo trạng đã truy t . Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên b bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c kho n 1 Điều 249; Điều 50; điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm c kho n 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Qu c Hội.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đ i với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong s 1832/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, mặt trước ghi “Hoàn tr mẫu vật giám định vật chứng qu n lý của Phạm Ngọc T, inh năm 1987, HKTT: Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình”.

Về án phí: ị cáo ph i nộp án phí hình ự ơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự để gi m nhẹ hình phạt mức thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ ở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như au:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định t tụng: Hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật T tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy t và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên kho ng 09 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, bị cáo đi đến khu vực đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Kiến Xương, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình hỏi và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine có kh i lượng 0,1510 gam với s tiền 200.000 đồng mục đích ử dụng cho b n thân. Khi mua được ma túy bị cáo ngậm gói ma túy vừa mua được vào trong mồm và đi bộ tìm nơi ử dụng. Khi đi đến khu vực ngã 3 đường liên xã thuộc thôn Văn Lăng, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thì bị Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình phát hiện yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã tự nguyện lấy từ trong mồm mình ra giao nộp 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, đó là Heroine bị cáo mua về để sử dụng cho b n thân. Công an huyện Kiến Xương đã tiến hành lập biên b n bắt người phạm tội qu tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên b n bắt người phạm tội qu tang do Cơ quan C nh át điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 19/12/2023 tại khu vực ngã 3 đường liên xã thuộc thôn Văn Lăng, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Biên b n tạm giữ tài s n, đồ vật, tài liệu do Cơ quan C nh át điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 11 giờ 40 phút ngày 19/12/2023 tại khu vực ngã 3 đường liên xã thuộc thôn Văn Lăng, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định s 1832/KL- KTHS ngày 22/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình kết luận. Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine có kh i lượng 0,1510 gam; Biên b n ghi lời khai của người chứng kiến ông Bùi Công M, inh năm 1957, trú tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình, ông Phạm Ngọc D, inh năm 1963, trú tại thôn V, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình và còn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ ơ vụ án.

[3] Từ căn cứ nêu trên hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Ngọc T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ qu n lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy không những làm sa sút sức khỏe, trí tuệ con người mà còn hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là nguồn g c phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo có nhân thân, B n án s 53/HSST ngày 10/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; B n án s 15/HSST ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiền H i, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng vì vậy ph i xử lý nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời s ng xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, có tác dụng giáo dục đ i với bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tình tiết gi m nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, b đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân, Huy chương trong thời kỳ ch ng Mỹ, do đó bị cáo được hưởng 01 tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Kho n 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Ngoài hình phạt tù trong điều luật còn quy định: gười phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đ i với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: S Heroine 01 phong bì niêm phong s 1832/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, mặt trước ghi “Hoàn tr mẫu vật giám định vật chứng qu n lý của Phạm Ngọc T, inh năm 1987, HKTT: Đô, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình” mục đích để sử dụng ma tuý nay cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về nguồn g c ma túy: Về nguồn g c s Hêroin, Phạm Ngọc T khai mua của một một đàn ông không quen biết tại khu vực đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Kiến Xương, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cơ quan C nh át điều tra Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái ình không xác định được người đàn ông như T đã khai nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo ph i chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự ơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c kho n 1 Điều 249; điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm c kho n 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a kho n 2 Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Qu c Hội.

1. Tuyên b : Bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/12/2023.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1235 gam Heroine au giám định hoàn lại đựng trong niêm phong s 1832/KL- KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, mặt trước ghi “Hoàn tr mẫu vật giám định vật chứng qu n lý của Phạm Ngọc T, inh năm 1987, HKTT: Đ, xã T, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”.

(Vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quản lý).

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc T ph i chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự ơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Ngọc T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ơ thẩm./

Cỡ chữ