- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16/2024/HS-ST Ngày: 26/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI - TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Trọng Nguyên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Rô Man Duyên – Cán bộ Liên đoàn lao động huyện Ia H’Drai và ông Đỗ Việt Hưng - Giáo viên Trường TH-THCS Nguyễn Tất Thành, huyện Ia H’Drai.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia H’Drai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum, đưa ra xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 15/11/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trương Duy N, sinh ngày 20/12/2004 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Chư Hem, xã Ia Đal, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn B, sinh năm 1985 và bà Trương Thị H, sinh năm 1983; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi trú số 19/2024/HSST-LCCT ngày 11/12/2024 và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lương Văn Gi, sinh ngày 07/8/2006 tại Nghệ An (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 10 ngày). Nơi cư trú: Thôn Chư Hem, xã Ia Đal, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn M, sinh năm 1983 và bà Kha Thị Ph, sinh năm 1988; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi trú số 18/2024/HSST-LCCT ngày 11/12/2024 và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đức Th, sinh năm 2004. Địa chỉ: Buôn Thái, xã Ea Kuêh, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981.
2. Anh Hà Văn H, sinh năm 1979.
Cùng địa chỉ: Buôn Thái, xã Ea Kuêh, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
(Anh Hà Văn H là chồng chị Nguyễn Thị H, vừa là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vừa là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Hồng; văn bản ủy quyền ngày 14/8/2024). Có đơn xin vắng mặt.
3. Anh A Th, sinh năm 1987. Trú tại: Thôn Chư Hem, xã Ia Dal, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 25/7/2024, Nguyễn Đức Th (Sinh ngày: 18/8/2004, HKTT: Buôn Thái, xã Ea Kuêh, huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk) mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng đen, biển số 47B3-037.61 của anh Hà Văn H (Sinh ngày: 05/5/1979, HKTT: Thôn Ngoại Khu, xã Trực Thuận, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) và chở theo Xên Bảo Kh (Sinh ngày: 23/7/2009, HKTT: Buôn Thái, xã Ea Kuêh, huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk) đi thăm người thân ở thôn Chư Hem, xã Ia Đal, huyện Ia H'Drai và ở tại nhà anh Phan Gia Úc (Sinh ngày: 19/3/1996, HKTT: Thôn Ia Đại, xã la Đal, huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum) là chú họ của Thái để chơi.
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27/7/2024, Úc rủ Th và Kh đi sinh nhật anh Lương Trung S (Sinh ngày: 27/7/2003, HKTT: Bản Phòng, thị trấn Thạch Giá, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An) ở thôn Chư Hem, xã Ia Đal cách nhà Úc khoảng 200 mét. Khoảng 21 giờ cùng ngày, có các bị cáo Trương Duy N và Lương Văn Gi cũng đến chơi. Trong lúc nhậu, giữa N, G và Th, Kh nói chuyện to tiếng dẫn đến cự cãi qua lại nhưng được mọi người tại đây can ngăn. Sau đó, Ú bảo Kh và Th đi về nhà của mình, khi về đến nhà Thái để xe máy trước sân nhà của Úc. Các bị cáo N và Gi sau khi được mọi người can ngăn cũng bỏ đi về. Được một lúc sau thì Sơn gọi điện cho Úc nói là Nam, Giang đi về rồi nên rủ cả ba đi bộ lên nhà Sơn để tiếp tục nhậu.
Về phía các bị cáo N, Gi sau khi từ nhà Sơn về đã đi bộ xuống nhà A Hưng (Sinh ngày: 22/09/2009, HKTT: Thôn Chư Hem, xã Ia Đal, huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum) ở thôn Chư Hem để ngồi chơi. Tại đây, do còn bực tức chuyện xảy ra ở nhà Sơn nên Nam đã nói với Giang là “Tao với mày đi tìm hai thằng kia đánh đi”. Lúc này, bị cáo Gi do cũng bực tức chuyện cũ nên đồng ý đi với bị cáo Nam, khi này Giang thấy một con dao để ở chân trụ nhà Hưng nên đã tự ý lấy cầm theo mà không nói ai và đi cùng Nam. Do biết Thái, Khang là cháu của Úc nên cả hai đã đi đến nhà Úc để kiếm nhưng khi đến nơi thì không thấy. Khi này, Nam thấy xe của Thái đi lúc chiều để ở sân nhà của Úc, trên xe cắm sẵn chìa khóa nên nghĩ đến chuyện lấy xe Thái đi đập phá cho bõ tức. Nam quay lại hỏi Giang “Xe này phải xe bọn nó không?” và được Giang xác nhận đúng thì liền đi đến điều khiển xe chạy đi, Giang lúc này không nói gì nhưng ngầm hiểu ý Nam nên cũng lên xe đi cùng Nam. Nam điều khiển xe chạy đi đến lán trút mủ tổ 3, nông trường cao su Suối Đá, thôn Chư Hem rồi dừng lại đây. Ngay sau đó, Nam đi nhặt một cành cây cùng với Giang đang cầm trên tay con dao đã mang đi từ lúc trước cùng nhau đập, chặt phá xe mô tô của Thái. Sau khi thực hiện xong hành vi trên, Nam vứt cành cây lại hiện trường, rồi cả hai quay lại nhà Hưng để dao lại chỗ cũ và đi về nhà ngủ.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, phía Úc, Thái, Khang sau khi đi chơi từ nhà Sơn về thì phát hiện xe máy không còn ở đây nữa, đi kiếm xung quanh không thấy nên tất cả đi về nhà ngủ. Đến gần trưa ngày hôm sau, nghe tin từ một số người dân phát hiện có chiếc xe máy bị đập phá vứt ở lán trút mủ tổ 3, Nông trường cao su Suối Đá nên Thái, Khang đi đến xem thì thấy đúng là xe của mình nên đã trình báo sự việc đến Cơ quan công an để được xử lý theo quy định.
* Tại Bản kết luận về việc định giá tài sản tố tụng hình sự số: 06/2024/KL-HĐĐG ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Ia H'Drai, kết luận: Giá trị bị thiệt hại của xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 47B3-03761, có số khung RLCSSC6KOFY198590, số máy 5C6K198595, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng một phần (Bao gồm: Yên xe; bộ dàn áo nhựa của xe, đèn chiếu hậu và đèn pha; đồng hồ xe; bình ắc quy xe; bộ IC; bộ E giò, bộ dây điện của xe; còi xe; dây thắng dầu trước; bình xăng xe, ốp xên xe; niềng xe trước, sau; tăm bánh xe sau; lốp xe trước, sau; dây công tơ mét, gác chân máy, cặp nhún trước, bộ khóa xe trước, sau), không kiểm tra tình trạng, kỹ thuật bên trong tại thời điểm ngày 27/7/2024 là 8.400.000đ ( Tám triệu bốn trăm nghìn đồng ).
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Trương Duy Nam và Lương Văn Giang đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Nam, Giang phù hợp với nội dung, diễn biến, tài liệu, chứng cứ của vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum truy tố đối với bị cáo Trương Duy Nam và Lương Văn Giang về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum giữ nguyên quyết định truy tố theo như toàn bộ nội dung Cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự, nhân thân đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
+ Đối với bị cáo Trương Duy Nam: Căn cứ khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trương Duy Nam mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, nhân đôi thời gian thử thách.
+ Đối với bị cáo Lương Văn Giang: Căn cứ khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 BLHS đề nghị xét xử bị cáo Lương Văn Giang mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, nhân đôi thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, các bị cáo Trương Duy Nam và Lương Văn Giang đã thống nhất sẽ bồi thường số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) cho bị hại Nguyễn Đức Thái nhưng bị hại không đồng ý nhận số tiền trên và yêu cầu được bồi thường số tiền là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và xử lý vụ án theo quy định. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay 02 bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000 ( Mười lăm triệu) đồng cho bị hại, bị hại đã nhận và không yêu cầu gì khác. Vì vậy, đề nghị HĐXX công nhận sự thoả thuận này.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe mô tô có số khung là RLCS5C6KOFY198590, số máy là 5C6K198595, xe đã bị đập phá, hư hỏng nhiều bộ phận: 01 (một) chìa khóa xe máy có nhãn hiệu YAMAHA; các mảnh vỡ của xe mô tô trên sau khi bị đập phá.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000148 mang tên Nguyễn Thị Hồng đối với xe mô tô BKS 47B3 – 037.61
Chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Hồng.
- 01 (một) cành cây dạng tròn, cong, dài 100cm, đường kính 04cm.
- 01 (một) con dao dài 45cm, cán bằng gỗ màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một cạnh sắc bén, một cạnh tù.
Cành cây và con dao trên không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bào chữa gì thêm.
Bị hại yêu cầu hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của Pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì thêm.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Hành vi của các bị cáo là trái pháp luật, các bị cáo xin lỗi người bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra Công an huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, lời khai của các bị cáo là khách quan phù hợp với các tài liệu khác đã được điều tra, thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Trong lúc dự sinh nhật tại nhà Lương Trung Sơn, giữa Nguyễn Đức Thái, Xên Bảo Khang và Trương Duy Nam, Lương Văn Giang xảy ra cự cãi nhưng đã được những người có mặt tại đây can ngăn. Sau khi ra về, do còn tức chuyện cũ nên Nam đã rủ Giang đi tìm Thái, Khang để đánh trả thù và được Giang đồng ý. Sau đó, cả hai bị cáo đi đến nhà Phan Gia Úc để tìm Thái, Khang nhưng không gặp. Lúc này, Nam nhìn thấy xe mô tô BKS 47B3-037.61 của Thái để ở đây nên nảy sinh ý định lấy xe của Thái đi đập phá cho bõ tức. Nam đến lấy xe mô tô điều khiển chở Giang đến lán trút mủ tổ 3, Nông trường cao su Suối Đá, thôn Chư Hem rồi cả hai cùng nhau dùng dao đã mang theo trước đó và nhặt cành cây tại đây để đập, phá xe của Thái. Sau khi thực hiện xong hành vi, cả hai đã vứt xe mô tô tại hiện trường rồi đi về nhà ngủ. Giá trị thiệt hại của xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, BKS 47B3-037.61 là 8.400.000đ ( Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
. Vào thời điểm phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện; xâm phạm quan hệ về sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như nội dung cáo trạng truy tố, Trương Duy Nam là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi, Lương Văn Giang với vai trò đồng phạm là người cùng thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả gây ra.
. Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản đối với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức, được Pháp luật ghi nhận và bảo vệ bằng chế tài nghiêm khắc nhất đó là hình phạt. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về độ tuổi của bị cáo Lương Văn Giang khi thực hiện tội phạm, bị cáo sinh ngày 07/8/2006. Thời điểm phạm tội ngày 27/7/2024, bị cáo đã trên 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng chế định người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Bị cáo Giang 17 tuổi 11 tháng 10 ngày, nhưng tại phiên tòa hôm nay Giang đã thành niên, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, khi lượng hình phải xử phạt bị cáo Giang hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng được quy định tại Điều 90, 91, 101 BLHS.
Hành vi của các bị cáo như Cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho người bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Riêng bị cáo Lương Văn Giang khi phạm tội là 17 tuổi 11 tháng 10 ngày.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Duy Nam khi đã có hành vi xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần cách ly các bị cáo với đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập: Các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức Pháp luật có phần hạn chế, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, sống phụ thuộc vào gia đình không có thu nhập và tài sản riêng, mặt khác theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 phạm tội nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.
[ 7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 30 triệu đồng tiền thiệt hại xe và chi phí đi lại làm việc với Cơ quan Công an nhưng bị hại không có tài liệu, chứng cứ gì làm căn cứ về yêu cầu đòi bồi thường số tiền 30 triệu đồng; Tuy nhiên tại phiên toà các bị cáo thoả thuận bồi thường số tiền 15 triệu đồng (Tiền thiệt hại tài sản 8.400.000 đồng và bồi thường thêm 6.600.000 đồng) và bị hại đã đồng ý và nhận số tiền 15.000.000 ( Mười lăm triệu) đồng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các bị cáo với bị hại và đã bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Đức Thái số tiền 15.000.000 ( Mười lăm triệu) đồng.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Văn Hạnh và chị Nguyễn Thị Hồng: Xe mô tô BKS 47B3 037-61 là tài sản riêng của vợ chồng anh Hạnh, chị Hồng cho Nguyễn Đức Thái mượn xe thì không may xảy ra sự việc trên. Anh Hạnh không có yêu cầu gì đối với việc này, giữa anh Hạnh và Thái sẽ giải quyết với nhau riêng và cam kết không thắc mắc, kiện cáo gì về sau (BL 169,170), nên Hội đồng xét xử không đề cập.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã xác định và thu giữ các vật chứng như sau:
- 01 (một) xe mô tô có số khung là RLCS5C6KOFY198590, số máy là 5C6K198595, xe đã bị đập phá, hư hỏng nhiều bộ phận: 01 (một) chìa khóa xe máy có nhãn hiệu YAMAHA; các mảnh vỡ của xe mô tô trên sau khi bị đập phá; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000148 mang tên Nguyễn Thị Hồng đối với xe mô tô BKS 47B3 – 037.61( Riêng BKS 47B3 – 037.61 không thu giữ được). Trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Hồng.
- 01 (một) cành cây dạng tròn, cong, dài 100cm, đường kính 04cm;
- 01 (một) con dao dài 45cm, cán bằng gỗ màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một cạnh sắc bén, một cạnh tù của anh A Thi, anh Thi không có yêu cầu nhận lại.
Cành cây, con dao không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
Căn cứ Điều 327 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Trương Duy Nam, Lương Văn Giang phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
2. Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trương Duy Nam 09 ( Chín ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/12/2024).
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lương Văn Giang 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( Mười hai ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/12/2024).
Giao bị cáo Trương Duy Nam, bị cáo Lương Văn Giang cho Ủy ban nhân dân xã Ia Đal, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự .
Về hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập: Không áp dụng hình phạt bổ sung ,khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo Trương Duy Nam, bị cáo Lương Văn Giang bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức Thái số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng (Tiền thiệt hại tài sản 8.400.000 đồng và bồi thường thêm 6.600.000 đồng). Bị hại đã nhận đủ số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu ) đồng.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Trả cho chị Nguyễn Thị Hồng: 01 (một) xe mô tô có số khung là RLCS5C6KOFY198590, số máy là 5C6K198595, xe đã bị đập phá, hư hỏng nhiều bộ phận: 01 (một) chìa khóa xe máy có nhãn hiệu YAMAHA; các mảnh vỡ của xe mô tô trên sau khi bị đập phá; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000148 mang tên Nguyễn Thị Hồng đối với xe mô tô BKS 47B3 – 037.61( Riêng BKS 47B3-037.61 không thu hồi được).
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cành cây dạng tròn, cong, dài 100cm, đường kính 04cm; 01 (một) con dao dài 45cm, cán bằng gỗ màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, một cạnh sắc bén, một cạnh tù.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia H’Drai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo. Buộc các bị cáo Trương Duy Nam, Lương Văn Giang mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/12/2024) các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý Trọng Nguyên
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum; - Công an huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum; - UBND xã Ia Đal, huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum; - TAND tỉnh Kon Tum; - Chi cục THADS huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum (khi bản án có hiệu lực); - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Kon Tum; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Trọng Nguyên |