- Tranh chấp gì? án hình sự — "ngo van danh - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 54 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HS-PT Ngày 06-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình
Bà Dương Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Phố- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út N- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 06/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Ngô Văn D, sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T (đã chết) và bà Ngô Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị hại, người liên quan không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 03/3/2023, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh thị xã Trảng Bàng tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất của bà Võ Thị Mỹ H nhận chuyển nhượng của Ngô Văn D. Quá trình thụ lý hồ sơ, nhận thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 075249 do Ngô Văn D đứng tên có nghi vấn là giấy giả nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh thị xã Trảng Bàng chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng để điều tra, xác minh làm rõ.
Qua điều tra, thể hiện: vào ngày 08/12/2018, Ngô Văn D thế chấp cho bà Võ Thị Mỹ H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 075249 do D đứng tên để vay số tiền 60.000.000 đồng bằng hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đến khoảng tháng 4/2020, D đến nhà bà H trả tiền và nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nhưng không hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, D chuyển nhượng phần đất trên cho ông Lê Văn T.
Đến khoảng tháng 5/2020, do làm ăn thua lỗ, không có tiền tiêu xài, D nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà H nên truy cập vào mạng xã hội Google, đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 075249 do D đứng tên với số tiền 3.000.000 đồng và nhận giấy giả thông qua dịch vụ giao hàng. Để bà H tin tưởng, D đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất giả thế chấp cho bà H tiếp tục vay tiền của bà Hương nhiều lần với tổng số tiền là 300.000.000 đồng; hàng tháng, D phải trả tiền lãi cho bà H số tiền 18.000.000 đồng. Đến tháng 12/2022, D không còn khả năng đóng lãi cho bà H nữa nên bà H thuê ông Nguyễn Hữu T đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 075249 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và D ký ngày 08/12/2018 đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh thị xã Trảng Bàng để làm hồ sơ đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất thì phát hiện là giấy giả.
Tại Kết luận giám định số 833/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 075249 là giấy giả.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn D 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; tổng hợp hình phạt bị cáo Ngô Văn D phải chịu 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/7/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 13 tháng 12 năm 2023, bị cáo Ngô Văn D có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và có nộp giấy trả tiền cho bị hại Hương với số tiền 110.000.000 đồng (Khắc phục xong hậu quả).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: vì để có tiền tiêu xài và tiền vốn để kinh doanh nên vào khoảng tháng 5/2020, Ngô Văn D đã dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 075249 giả để tạo lòng tin, thế chấp cho bà Võ Thị Mỹ H để vay tiền nhiều lần với tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Đến tháng 12/2022, D không còn khả năng trả tiền lãi cho bà H nên bà H đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất này đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh thị xã Trảng Bàng để làm hồ sơ đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất thì phát hiện là giấy giả.
Bà Võ Thị Mỹ H cho rằng thời điểm bà nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả là vào ngày 08/12/2018 với mục đích là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bị cáo D mà không phải do bị cáo D thế chấp để vay tiền vào tháng 5/2020 như bị cáo D đã khai nhận. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung các tin nhắn giữa bị cáo D và bà Hương đã thể hiện việc bị cáo D trả tiền lãi hàng tháng cho H; đồng thời căn cứ vào lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Quốc T trong quá trình điều tra, truy tố thì xét thấy lời khai của bị cáo là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mặt khác, dù lời khai của bà H và bị cáo D có mâu thuẫn với nhau về thời điểm giao nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và mục đích giao nhận nhưng cả hai đều thống nhất số tiền liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả này là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Có đủ căn cứ để xác định số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bà H là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Ngô Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm có xem xét tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc bị phát hiện, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Ngô Văn D 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; tổng hợp hình phạt bị cáo Ngô Văn D phải chịu 10 (mười) năm tù, là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không nặng.
Bị cáo kháng cáo và có cung cấp thêm giấy trả tiền cho bị hại với số tiền 110.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo đã khắc phục xong hậu quả, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo; không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; Sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Ngô Văn D không phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Văn D.
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 59/2023/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn D 05 (Năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Ngô Văn D 02 (Hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung bị cáo Ngô Văn D phải chịu 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/7/2023.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - VKSND. TTN; - TAND. Tx Tr.Bàng; - Chi cục THADS. Tx Tr.Bàng; - Công an Tx Tr.Bàng; - Phòng PV 06 CATTN; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Diệp |