vanban.org

Bản án 16/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-PT
Ngày: 28 - 3 - 2024

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Sơn; Ông Dương Viết Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đoàn QuAg Tiến-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 127/2023/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn A do có kháng cáo của bị cáo A đối với bản án hình sự sơ thẩm số 107/2023/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn A, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1985 tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Binh; nơi cư trú: Thôn m P, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Lê Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: ngày 05/02/2023, Nguyễn Văn A bị Công An huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc"; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Lê Văn T nhưng không liên quA đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 20/6/2023, Nguyễn Văn A và Lê Văn T rủ nhau đi trộm cắp tài sản tại mỏ đá của Công ty TNHH sản xuất vật liệu C ở tỉnh Quảng Bình. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 21/06/2023, cả hai đã cắt trộm dây điện nối từ phòng điều khiển đến mô tơ máy xay đá và máy khác, sau đó khiêng số dây điện này đến vườn keo gần nhà máy, cắt, chặt thành nhiều đoạn và bóc tách vỏ nhựa để lấy lõi kim loại. Khi cả hai đang tiến hành bóc tách vỏ dây điện thì bị tổ công tác Công A xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch phát hiện, lập biên bản.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bố Trạch kết luận, số dây điện của Công ty TNHH sản xuất vật liệu Chí Tài tại thời điểm bị A và Tư chiếm đoạt trị giá 11.710.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An huyện Bố Trạch thu giữ và xử lý trả lại tài sản cho bị hại là Công ty TNHH sản xuất vật liệu Chí Tài. Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng theo yêu cầu.

Tại bản án số 107/2023/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình quyết định : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” ; Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 36; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; các điểm b, 1, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVCH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra bản án còn tuyên trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khác trong vụ án, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Trong thời hạn luật định, ngày 01/12/2023 bị cáo Nguyễn Văn A kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Ngày 19/02/2024, bị cáo có đơn đề nghị cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn A thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo nuôi mẹ già yếu, nếu đi chấp hành án không có ai nuôi mẹ, gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 BLHS sửa án sơ thẩm chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ cho bị cáo 2 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội dAh: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn A thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản là dây điện ở mỏ đá của Công ty TNHH sản xuất vật liệu Ch. Tài sản trộm cắp được định giá 11.710.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra truy tố xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên án sơ thẩm áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Bản thân bị cáo có một tiền sự, thuộc trường hợp có nhân thân xấu, không đủ điều kiện để hưởng án treo và không đủ điều kiện để chuyển loại hình phạt khác nhẹ hơn. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có mẹ đã già bị cáo chăm sóc nuôi dưỡng. Những thiệt hại gây ra cho bị hại đã được khắc phục. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng Điều 54 BLHS để sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, sửa bản án sơ thẩm số 107/2023/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ