vanban.org

Bản án 16/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 29/07/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ nh Q ph m tội “Trộm cắp tài sản”

Về điều luật áp d ng và hình ph t: Giao bị cáo Nguyễn Đình Q cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Đình Q có trách nhiệm phố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn C cùng đồng bọn trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ nh Q ph m tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; Điều 173 Bộ luật hình s; Điều 342 Bộ luật Tố t ng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-PT
Ngày: 21-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Hải

Các Thẩm phán:

Bà Bạch Thị Hồng Hoa

Ông Vũ Văn Túc

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quốc Hùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa nh xét x ph c th m c ng khai v án h nh s ph c th m th ý số: 04/2024 T T-H ngày 15/01/2024 đối với các bị cáo ùi Văn C, Nguyễn Đ nh Q o có kháng cáo của các bị cáo ùi Văn C, Nguyễn Đ nh Q đối với bản án hình s sơ th m số: 83/2023/HS-ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện ương ơn, tỉnh Hòa Bình.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Bùi Văn C; sinh ngày 12 12 1988; Nơi cư tr : , xã C, huyện , tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: ao động t do; tr nh độ học vấn 12 12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam Con ng ùi Văn N (đã chết) và bà ùi Thị N; có vợ là Hoàng Thị , sinh năm 1991 và 02 con, ớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016 Gia đ nh có 03 anh em, bị cáo à con thứ ba trong gia đ nh Tiền án, tiền s : Kh ng

ị cáo bị t m giữ, t m giam từ ngày 28 11 2022 đến nay, có mặt

2. Nguyễn Đình Q, sinh ngày 08 9 1996; nơi cư tr : Xóm , xã C, huyện , tỉnh Hòa nh Nghề nghiệp: ao động t do; tr nh độ học vấn: 12 12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam Con ng Nguyễn Đ nh N và bà Bùi Thị . Có vợ là Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 2005; chưa có con Gia đ nh bị cáo có 02 anh em, bị cáo à con thứ hai trong gia đ nh Tiền án, tiền s : Kh ng

ị cáo bị t m giữ từ ngày 28 11 2022 đến ngày 17/01/2023, hiện bị cáo bị áp d ng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư tr , có mặt

Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị:

Nguyễn Văn L; sinh ngày 05/01/1992; nơi cư tr : th n Đèo Cáo ân Chàm, xã Đồng Tiến, huyện Hữu ũng, tỉnh ng ơn

Bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị:

Công ty Cổ phần C; địa chỉ: Khu c ng nghiệp , xã H, huyện , tỉnh Hòa Bình. Người đ i diện theo pháp uật: Ông Nguyễn Thanh - Giám đốc

Người đ i diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T - Giám đốc nhà máy. Xin xét x vắng mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị:

1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1968; nơi cư tr : Th n Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh L ng ơn

2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995; nơi cư tr : Th n , xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.

3. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993; nơi cư tr : Th n , xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình

4. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1991; nơi cư tr : Th n , xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình

5 Anh ê Đức H, sinh năm 1982; nơi cư tr : Th n , xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

6. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; nơi cư tr : Th n T, xã X, huyện S, TP Hà Nội.

(Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn là quản lý bộ phận kho của Công ty Cổ phần C, do cần tiền chi tiêu cá nhân, nên khoảng tháng 3/2022 L chỉ đ o cấp dưới của m nh à ùi Văn C (tổ trư ng kho của công ty) khi nào hàng đến bộ phận kho gồm tấm tế bào pin năng ượng mặt trời (tấm pincell) và dây hàn thì xuất dư số ượng và cất riêng vào một khu v c với m c đích khi nào thuận lợi th mang đi bán au đó ùi Văn C bàn b c với Nguyễn Đ nh Q là nhân viên của Công ty để cùng th c hiện hương thức th c hiện của các đối tượng là rút từ các pa et để hàng sau khi th c hiện xong sẽ quấn l i màng bọc nilon nhằm che mắt phần đã r t đi (Mỗi pa et 500kg các đối tượng sẽ rút khoảng 20 – 30kg). Cùng thời điểm đó Nguyễn Văn đã ên m ng t m nơi tiêu th sản ph m. au đó uân đã t m được Công ty T có địa chỉ: huyện Q, tỉnh B à nơi thu mua sản ph m.

Từ tháng 3 2022 đến tháng 11/2022 L, C, Q đã ấy trộm được tổng số 538,8 kg dây hàn và 6.960 tấm pince Trong đó và C đã tr c tiếp chuyển ra khỏi công ty CRC 300kg dây hàn bán cho công ty T 03 lần. Lần thứ nhất là L và C vận chuyển 100kg dây hàn vào xe ô tô BKS 99A - 445.81 của em gái L, sau đó tr c tiếp đưa đến Công ty T để bán với giá 17 000 000 đồng. Lần thứ 2 và lần thứ 3 L có thuê xe công ty T đến lấy hàng, sau đó và C đưa dây hàn ên xe của Công ty để ch về công ty T. Tổng 03 lần Luân bán cho công ty T dây hàn với giá 51 000 000 đồng. Số tiền này L đưa cho C 15 000 000 đồng, trả tiền xe cho lái xe ê Đức H của công ty T à 4 000 000 đồng. Còn l i 32 000 000 đồng L chi tiêu cá nhân hết. Số tiền 15 000 000 đồng C nhận được chia cho Nguyễn Đình Q 1 500 000 đồng, đưa cho Nguyễn Tiến T và Hoàng Văn T1 mỗi người 500.000 đồng. Số sản phầm chưa tiêu th còn l i gồm 238,8 kg dây hàn và 4.320 tấm pince được đặt trong thùng catong được đặt trong kho hàng thải. Còn 2.640 tấm pince được đặt trong 02 thùng catong giấu trong phòng kho của công ty.

Ngày 25/11/2022 khi biết việc, công ty C tiến hành kiểm kê vật tư, phát hiện việc thiếu h t vật tư Chấn bảo Nguyễn Đ nh Q và Đinh Văn vận chuyển các thùng catong dây hàn vào l i kho của c ng ty và đập 4.320 tấm pince được đóng trong 03 thùng catong t i kho hàng thải.

Ngày 28 11 2022 ùi Văn C, Nguyễn Đ nh Q, Nguyễn Văn đến cơ quan C ng an đầu thú về hành vi ph m tội của mình.

Kết quả định giá tài sản:

- T i bản kết luận định giá tài sản số 38/KL – HĐĐGT ngày 05 12 2022 của Hội đồng định giá tài sản xác định: Trị giá tài sản t i thời điểm bị xâm h i gồm 238,8 kg dây hàn trị giá: 79 850 647 đồng; 6.960 tấm tế tấm tế bào quang điện (dùng để sản xuất pin năng ượng mặt trời) có giá 205 389 600 đồng. Tổng cộng: 285 240 247 đồng.

- T i bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGT ngày 15 12 2022 của Hội đồng định giá tài sản xác định: Trị giá tài sản t i thời điểm bị xâm h i gồm 300 kg dây hàn trị giá 100 314 883 đồng.

Tổng cộng tài sản trị giá: 385 555 130 đồng.

Về trách nhiệm Dân sự: Công ty cổ phần C yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 385 555 130 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn đã bồi thường 200 000 000 đồng; bị cáo Nguyễn Đ nh Q đã bồi thường 50 000 000 đồng; bị cáo ùi Văn C đã bồi thường 30 000 000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 83/2023/HS - ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn , ùi Văn C, Nguyễn Đ nh Q ph m tội “Trộm cắp tài sản”

Áp d ng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình s .

X ph t: ùi Văn C 04 (bốn) năm tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 28/11/2023.

X ph t bị cáo Nguyễn Đ nh Q 03 (ba) năm tù Thời h n tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian t m giữ, t m giam (từ ngày 28 11 2022 đến ngày 17/01/2023)

Ngoài ra bản án sơ th m còn quyết định hình ph t đối với các bị cáo khác; về trách nhiệm dân s , x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/12/2023 bị cáo Bùi Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t;

Ngày 11/12/2023 bị cáo Nguyễn Đ nh Q kháng cáo xin được hư ng án treo.

T i phiên tòa phúc th m bị cáo Bùi Văn C t nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Đ nh Q giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong h n luật định nên được chấp nhận.

T i phiên tòa phúc th m, bị cáo ùi văn C t nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo, căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật TTHS, đề nghị HĐXX đ nh chỉ xét x phúc th m đối với bị cáo ùi văn C.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đ nh Q: Tòa án nhân dân huyện L đã xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi ph m tội cũng như các t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình s , x ph t bị cáo 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình s à có căn cứ, đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp uật.

T i giai đo n phúc th m bị cáo cung cấp được chứng cứ mới đó à bị cáo à ao động chính trong gia đ nh, gia đ nh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo mới ập gia đ nh, vợ bị cáo đang mang thai và kh ng có việc àm, bố mẹ sức khỏe yếu, thường xuyên ốm đau Đây à các t nh tiết giảm nhẹ mới được quy định t i khoản 2 Điều 51 H . Đề nghị Hội đồng xét x áp d ng điểm b, khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố t ng hình s , chấp nhận kháng cáo xin hư ng án treo của bị cáo, s a bản án sơ th m

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo ùi Văn C và bị cáo Nguyễn Đ nh Q trong thời h n luật định nên được Hội đồng xét x chấp nhận.

T i phiên tòa phúc th m, bị cáo Bùi Văn C t nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo Căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố t ng hình s , Hội đồng xét x đ nh chỉ xét x phúc th m đối với bị cáo Bùi Văn C.

Về nội dung:

T i phiên tòa phúc th m bị cáo Nguyễn Đ nh Q khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, lời khai của bị h i, người tham gia tố t ng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án. Từ đó có đủ cơ s khẳng định: Từ tháng 3 2022 đến tháng 11/2022, bị cáo tiếp nhận ý chí chỉ đ o của L và C, cùng C lấy trộm các nguyên vật liệu của Công ty cổ phần C là 538,8 kg dây hàn và 6.960 tấm pincell cất giấu vào kho hàng lỗi hỏng, tổng giá trị tài sản là 385 555 130 đồng.

Bị cáo à người đủ năng c chịu trách nhiệm hình s , nhận thức được việc lấy trộm tài sản của công ty là vi ph m pháp luật nhưng v m c đích v lợi nên các bị cáo vẫn cố tình th c hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tr c tiếp xâm ph m đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hư ng đến an ninh, trật t an toàn trên địa phương Tòa án nhân dân huyện ương ơn đã xét x bị cáo Nguyễn Đ nh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình s à có căn cứ, đ ng pháp luật

. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đình Q, HĐXX nhận thấy:

Sau khi ph m tội bị cáo đã đầu thú, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội; tích c c bồi thường thiệt h i cho Công ty Cổ phần C (50.000.000 đồng), bị cáo có ông ngo i được tặng huy chương kháng chiến h ng nhất, có bố đẻ được tặng thư ng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Đây à các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s được quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s . Cấp sơ th m đã x ph t bị cáo Q 03 năm tù à có căn cứ.

T i cấp phúc th m bị cáo xuất tr nh đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo à ao động chính duy nhất trong gia đ nh, gia đ nh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ sức khoẻ yếu thường xuyên ốm đau, bị cáo mới lập gia đ nh, vợ bị cáo đang mang thai và không có việc làm. Đây à t nh tiết giảm nhẹ mới quy định t i khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp d ng cho bị cáo.

Xét thấy, trong v án này bị cáo đồng ph m với vai trò thứ yếu, số tiền hư ng lợi rất ít 1 500 000đ ị cáo có nhân thân tốt, ph m tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền s , có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s . Bị cáo có nơi cư tr rõ ràng, ngoài lần ph m tội này bị cáo luôn chấp hành đ ng chính sách, pháp uật và th c hiện đầy đủ các nghĩa v t i địa phương, gia đ nh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo à ao động chính duy nhất trong gia đ nh. Xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần giữ nguyên hình ph t, cho bị cáo hư ng án treo như đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện giáo d c, cải t o bị cáo thành người có ích cho xã hội, thể hiện s khoan hồng của pháp luật, không trái với Điều 65 BLHS và Văn bản hợp nhất số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Th m phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo. o đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đ nh Quỳnh.

Các quyết định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật, kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo ùi Văn C, Nguyễn Đ nh Q không phải nộp án phí hình s phúc th m.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình s , đ nh chỉ xét x phúc th m đối với bị cáo ùi Văn C.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ Luật tố t ng hình s . Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đ nh Q. S a một phần bản án hình s sơ th m số 83/2023/HS - ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lương ơn, tỉnh Hòa Bình về hình ph t đối với đối với bị cáo Nguyễn Đ nh Q, c thể:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ nh Q ph m tội “Trộm cắp tài sản”

2. Về điều luật áp d ng và hình ph t:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 2 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình s . X ph t bị cáo Nguyễn Đ nh Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian th thách là 5 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc th m.

Giao bị cáo Nguyễn Đình Q cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Đình Q có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Bị cáo ùi Văn C, Nguyễn Đ nh Q không phải nộp án phí phúc th m.

3. Các quyết định khác của bản án hình s sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc ph m có hiệu l c kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TANDCC, VKSNDCC t i Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Hòa Bình;

- TAND H. ương ơn;

- C c THADS H. ương ơn;

- Người tham gia tố t ng;

- ưu V , H VA.

Trần Thanh Hải

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Túc

Bạch Thị Hồng Hoa

Trần Thanh Hải

Cỡ chữ