vanban.org

Bản án 16/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về việc: “Tranh chấp ly hôn” như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Dương Văn H được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị N. Về con chung: Các con chung đã trưởng thành, Các đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Văn H - Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về việc: “Tranh chấp ly hôn” như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 3 -2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Thanh Nhàn.

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 904/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 3, khu phố 2, phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ 3, khu phố 2, phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn Ông Dương Văn H trình bày:

Ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị N đăng ký kết hôn năm 1990 tại UBND phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, hòa thuận, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện tại không ai quan tâm chăm sóc nhau và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Do vậy, Ông H yêu cầu được ly hôn với bà N.

Về con chung: Có 03 con chung là cháu Dương Văn Hg, sinh năm 1990; Dương Thị VA, sinh năm 1994 và Dương Bá D, sinh năm 1999. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Thống nhất lời trình bày của ông H về quan hệ hôn nhân, con chung. Hiện tại vợ chồng vẫn sống chung nhà, không có mâu thuẫn gì dẫn đến phải ly hôn, còn việc cải vả giữa vợ chồng là chuyện bình thường trong gia đình. Khi ông H về quê và đi các tỉnh khác chơi thì có quen mấy người, hiện tại ông H muốn ly hôn để cưới người khác. Ông H đi đâu hay quen bạn bè như thế nào bà N không có ý kiến, bà N vẫn muốn duy trì gia đình để chăm lo cho con cái.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N có ý kiến như sau:

1. Về hôn nhân: Bà N không đồng ý ly hôn với ông H.

2. Về con chung: Có 03 con chung là cháu Dương Văn Hg, sinh năm 1990; Dương Thị VA, sinh năm 1994 và Dương Bá D, sinh năm 1999. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên đại diện VKSND thị xã Bến Cát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự có tranh chấp về ly hôn; bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Nguyên đơn đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập để tham gia phiên tòa, tuy nhiên bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị N đăng ký kết hôn năm 1990 tại UBND phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Do đó quan hệ hôn nhân giữa ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị N là hợp pháp.

Ông Dương Văn H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được, vợ chồng không ai quan tâm chăm sóc nhau và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Xét thấy, bị đơn bà N cho rằng không có mâu thuẫn gì dẫn đến phải ly hôn, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà N chỉ tham gia trình bày ý kiến vào ngày 18/01/2024 và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng còn lại và vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, điều đó cho thấy bà N không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm với ông H. Ông H và bà N đã sống ly thân trong một thời gian rất dài và không còn quan tâm chăm sóc nhau theo đúng nghĩa vợ chồng. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Xét 03 con chung của ông H và bà N là cháu Dương Văn Hg, sinh năm 1990; Dương Thị VA, sinh năm 1994 và Dương Bá D, sinh năm 1999 đều đã trưởng thành, ông H và bà N thống nhất không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.

Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đúng quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về việc: “Tranh chấp ly hôn” như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Dương Văn H được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị N.

- Về con chung: Các con chung đã trưởng thành, Các đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Ông Dương Văn H phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002194 ngày 06/12/2023 tại Chi cục THADS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ