vanban.org

Bản án 16/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị H được quyền ly hôn với ông Trần Văn T. Về con chung: Giao cháu Trần Văn Q, sinh ngày 13/12/2016, Trần Văn L, sinh ngày 04/6/2018 cho ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Trần Văn T, sinh ngày 30/4/2020 cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồng, Tú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 19 – 02 – 2024
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

2/ Ông Huỳnh Minh Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 327/2023/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H; Sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn 15, xã E, huyện C, tỉnh Đ (Bà H vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Văn T; Sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện T, tỉnh S (Ông T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Bà với ông Trần Văn T tổ chức lễ cưới vào năm 2016 và cũng trong năm 2016 ông bà đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đ và được UBND xã E cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 18/7/2016.

Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T hay ăn nhậu, không chung thủy và chửi mắng bà vô cớ. Đến đầu năm 2022, bà H đã mang theo con nhỏ là cháu Trần Văn T về bên nhà cha mẹ ruột của bà ở Thôn 15, xã E, huyện C, tỉnh Đ sinh sống cho đến nay.

Trong quá trình chung sống, bà H với ông T có ba con chung là Trần Văn Q, sinh ngày 13/12/2016, Trần Văn L, sinh ngày 04/6/2018 và Trần Văn T, sinh ngày 30/4/2020. Cháu Q và cháu L đang sống với cha, còn cháu T đang sống với mẹ.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nay bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Bà H đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Trần Văn Q và Trần Văn L và bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Văn T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Văn T không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 327/TB-TLVA ngày 29 tháng 11 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Trần Văn T nhưng ông Trần Văn T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông Trần Văn T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Trần Văn T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H ly hôn với ông Trần Văn T. Về con chung: Giao cháu Trần Văn Q và Trần Văn L cho ông Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Trần Văn T cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị H và ông Trần Văn T đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, còn ông T mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà H và ông T.

Về nội dung: Bà Lê Thị H và ông Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 18/7/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp. Nguyên đơn bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông T, yêu cầu được nuôi cháu Thọ, đồng ý để ông T nuôi dưỡng cháu Quý và cháu Lộc, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét lý do xin ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy, bà H và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T hay ăn nhậu, không chung thủy và chửi mắng bà vô cớ. Đến đầu năm 2022, bà H đã mang theo con nhỏ là cháu Trần Văn T về bên nhà cha mẹ ruột của bà ở Thôn 15, xã E, huyện C, tỉnh Đ sinh sống cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà H trình bày bà làm công nhân và thu nhập của bà mỗi tháng khoảng 7.000.000 – 8.000.000 đồng. Thu nhập này bà chỉ đủ để nuôi dưỡng một cháu là cháu Thọ. Còn ông T thì làm công nhân và thu nhập mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng. Xét thấy, từ khi bà Hvà ông T không còn sống chung thì cháu Thọ sống chung với bà H, cháu Quý và cháu Lộc sống chung với ông T. Để ổn định cuộc sống của các cháu, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, quyết định giao cháu Quý và cháu Lộc cho ông T nuôi dưỡng, giao cháu Thọ cho bà H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T nuôi dưỡng hai cháu Quý và cháu Lộc, bà H nuôi dưỡng cháu Thọ, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà H yêu cầu nên bà phải chịu theo luật định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị H được quyền ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Trần Văn Q, sinh ngày 13/12/2016, Trần Văn L, sinh ngày 04/6/2018 cho ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Trần Văn T, sinh ngày 30/4/2020 cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lê Thị H và ông Trần Văn T và có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người kia. Trường hợp người nào lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002218 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy, bà Lê Thị H đã nộp xong án phí.

- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ