- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Quốc Q "Tranh chấp ly hôn" Võ Thị Thúy H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Quốc Q đối với chị Võ Thị Thúy H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-5-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoàng
Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Quốc Q, sinh năm 2000
Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Chị Võ Thị Thúy H, sinh năm 2004
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An.
Anh Q có mặt, chị H vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Huỳnh Quốc Q trình bày: Anh Q và chị H chung sống với nhau từ cuối năm 2020, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 14-12-2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm và có với nhau 01 con chung tên Huỳnh Quốc C, sinh ngày 20-4-2021. Đến ngày 14-01-2024, trong lúc anh Q đi làm thì chị H đột nhiên bỏ nhà đi và chung sống cùng người khác, bỏ mặc anh Q và con cho đến hiện tại. Nay anh Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Anh Q yêu cầu được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh Q yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Quốc C, sinh ngày 20-4-2021, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Ý kiến của bị đơn chị Võ Thị Thúy H: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Võ Thị Thúy H vắng mặt và không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Anh Huỳnh Quốc Q và chị Võ Thị Thúy H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 14-12-2022 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Huỳnh Quốc Q và chị Võ Thị Thúy H là hợp pháp.
Nguyên đơn anh Huỳnh Quốc Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Võ Thị Thúy H có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn chị Võ Thị Thúy H:
Xét thấy chị Võ Thị Thúy H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Võ Thị Thúy H.
Về hôn nhân:
Tại phiên tòa, anh Q xác định không còn tình cảm với chị H, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài và cương quyết yêu cầu được ly hôn. Xét thấy chị H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nộp văn bản thể hiện ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên có đủ căn cứ xác định chị H không quan tâm, không có thiện chí, không mong muốn giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn đoàn tụ với anh Q. Như vậy căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, lời trình bày của anh Q về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh Q và chị H đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Anh Q và chị H có 01 con chung tên Huỳnh Quốc C, sinh ngày 20-4-2021, hiện tại do anh Q đang trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, anh Q yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy anh Q là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con chung, tránh thay đổi môi trường sống nên cần giữ nguyên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung như hiện tại. Ngoài ra, chị H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nộp văn bản thể hiện ý kiến và yêu cầu tranh chấp nuôi con chung. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho anh Q tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị H không nộp văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh Q trình bày không có, chị H không nộp văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn anh Huỳnh Quốc Q phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Võ Thị Thúy H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Quốc Q đối với chị Võ Thị Thúy H.
- Về hôn nhân: Cho anh Huỳnh Quốc Q ly hôn chị Võ Thị Thúy H.
- Về con chung: Giao con chung Huỳnh Quốc C, sinh ngày 20-4-2021 cho anh Huỳnh Quốc Q tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Anh Huỳnh Quốc Q có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003523 ngày 18 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Huỳnh Quốc Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Võ Thị Thúy H có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Tân Thạnh; - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh; - Cơ quan đã đăng ký kết hôn; - TAND tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Minh Trọng |