- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị N và anh D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Bá Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày 01 tháng 3 năm 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Gia Khải;
2. Ông Đặng Ngọc Tân.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXX-ST ngày 15/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1992
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Số nhà D, khu phố X, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Chị N, anh Đ đều có đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá Đ tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 19/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 01 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 01/2023 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị N và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 và Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016. Ly hôn Chị N đề nghị giao 02 con chung cho anh Đ nuôi dưỡng, Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì bị đơn anh Nguyễn Bá Đ trình bày như sau: Anh xác nhận lời trình bày của Chị N về thời gian hoàn cảnh kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp. Nay Chị N có đơn xin ly hôn thì anh Đ đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu Chị N kiên quyết xin ly hôn thì anh Đ cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 và Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016. Ly hôn anh Đ đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu Chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Quỳnh M trình bày: Cháu Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 là con đẻ của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Bá Đ. Hiện cháu M đang học lớp 4B Trường tiểu học và Trung học cơ sở xã A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Nếu Chị N, anh Đ ly hôn thì cháu M có nguyện vọng ở cùng anh Nguyễn Bá Đ.
- Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Quỳnh T trình bày: Cháu Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016 là con đẻ của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Bá Đ. Hiện cháu T đang học lớp 2A Trường tiểu học và Trung học cơ sở xã A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Nếu Chị N, anh Đ ly hôn thì cháu T có nguyện vọng ở cùng anh Nguyễn Bá Đ.
- Tại biên bản xác minh với gia đình anh Nguyễn Bá Đ và cơ sở Thôn N, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Bá Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A vào ngày 19/01/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay Chị N và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 01/2023 cho đến nay, mỗi người một nơi. Nay Chị N có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị N và anh Đ có 02 con chung là Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 và Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016 hiện đang ở cùng anh Đ và gia đình anh Đ, ly hôn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Bá Đ là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Quỳnh Phụ nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chị N, anh Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của Chị N, anh Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/01/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay không hỏi han, chia sẻ với nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc Chị N đề nghị ly hôn nhưng anh Đ không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị N, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị N, xử cho chị được ly hôn anh Đ là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Bá Đ có 02 con chung là Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 và Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016. Ly hôn Chị N, anh Đ đều đề nghị giao 02 con chung cho anh Đ nuôi dưỡng, Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu M và cháu T cũng có nguyện vọng được ở cùng anh Đ. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của anh Đ là chính đáng, anh Đ có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho anh Nguyễn Bá Đ trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 và Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016; Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Bá Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Bá Đ.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Bá Đ trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 19/02/2014 và Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 12/8/2016; chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) Chị N đã nộp theo Biên lai thu số 0004552 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Bá Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ; - UBND xã A, huyện Quỳnh Phụ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |